Tag: Phục Sinh

Bình an do Lòng Chúa Thương Xót

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật 2 Phục Sinh A 2011

Bình an thật là bình an do lòng Thương Xót của Thiên Chúa, qua “Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết và sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống” (1 Pr 1,3)

Các môn đệ bất an, sợ hãi, vì người Do Thái đã giết chết Thầy mình cách kinh khủng, sợ hãi vì vụ án nầy còn có thể liên lụy tới các ông. Chúa Giê-su Phục Sinh đã hiện đến với các môn đệ và nói “Bình an cho các con”. Bình an hôm nay đích thực ứng nghiệm lời Chúa đã nói trước: “Thầy ban bình an cho các con, sự bình an mà thế gian không ban được” (Ga 14, 27). Thế gian không ban được vì thế gian không thể có loại bình an ấy: bình an phục sinh, bình an của người chiến thắng thần chết, chiến thắng tội lỗi, chiến thắng đời sống cũ của con người cũ trong xác phàm. Bình an thật.

Các môn đệ vui mừng nhìn thấy Thầy đã sống lại thật, vì được xem tận mắt những dấu đinh nơi tay chân, dấu đòng nơi cạnh sườn. Người mang dấu đinh, dấu đòng, đang đi lại, đang nói, không ai khác, chính là Thầy mình. Thầy mình đã sống lại. Sự phục sinh của Chúa đã phục sinh niềm tin, phục sinh đức trông cậy, phục sinh lòng yêu mến của các ông đang bị nhạt nhòa, nghi hoặc, lu mờ. Sự phục sinh của Chúa làm cho tâm hồn các ông bình an. Chỉ có Toma vắng mặt. Ông không thấy, ông không tin. Ông chưa gặp được Đấng phục Sinh, chưa bình an. Bởi vậy, tám ngày sau, Chúa lại hiện đến và nói “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27)

Như đã được chạm vào những vết đinh vết đòng, chạm vào thân xác Phục sinh của Chúa, chạm vào nguồn ân sủng của Đấng Phục Sinh, Toma bình an công khai tuyên tín: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20, 28)

Như vậy, bình an thật chỉ có nơi Chúa Giê-su Phục Sinh, và sẽ là quà tặng quí giá cho tất cả những ai kết hiệp cùng Người, cùng chết và sống lại với Người. Các môn đệ đã chôn vùi sự nghi ngờ. Toma bằng lòng chết cái suy luận thực dụng. Còn chúng ta, Chúa đang ban cho chúng ta bình an thật. Liệu chúng ta có đón nhận ơn bình an đó không? Liệu chúng ta có chấp nhận kết hiệp với Người để chết và sống lại với Người không?

Bao lâu chúng ta còn sống trong tình trạng đang chết phần linh hồn vì thiếu đói, vì bất cần hay vì không tin, thì bấy lâu chúng ta chưa đón nhận được quà tặng bình an quí giá nầy.

Bao lâu chúng ta chưa vượt qua được những cuốn hút, những mê hoặc của thần chết, của tội lỗi, thì bấy lâu chúng ta còn bất an, hoặc là tự hài lòng với một loại bình an giả tạo.

Bao lâu chúng ta chưa bằng lòng chấp nhận từ bỏ mình, vác thánh giá, đóng đinh tính xác thịt mình, thì nguồn bình an thật hãy còn ở xa chúng ta lắm lắm, nếu không nói là chúng ta vẫn đang trong tình trạng hỗn độn hoang tàn đổ nát.

Nhìn vào đời sống tâm linh của tôi, của bạn, hẳn là chính tôi, chính bạn biết rõ chúng ta đang thủ đắc loại bình an nào, thật hay giả, bình an của sự chết hay bình an của sự sống lại. Lời chúc “Bình an cho các con” là bình an phục sinh mà Chúa muốn mỗi chúng ta sở hữu bằng cuộc sống kết hiệp mật thiết với Đấng đã chết và chiến thắng sự chết, Đấng đã mang lấy tội lỗi của phàm nhân và đã tẩy xóa tội lỗi phàm nhân bằng chính máu, và nước của mình.

Tuy nhiên, Chúa Giê-su hiểu rõ hoàn cảnh thật bi đát của chúng ta giữa dòng đời trong thân phận con người mỏng manh yếu đuối, luôn nghiêng tìm loại bình an hư ảo chóng qua, mà không chấp nhận đóng đinh đời mình để được sống lại với nguồn bình an thật.

Vì thế, Máu Nước tuôn trào từ trái tim yêu thương của Chúa đã khai sinh một nguồn ân sủng của Lòng Xót Thương vô bờ, khai sinh những bí tích diệu kỳ để con người có được sức thiêng thần thánh để nói không với lời dụ ngọt của thế trần, để sở hữu một bình an của sự chiến thắng tội lỗi, chiến thắng những đòi hỏi bất chính của bản thân, của xác thịt, của ma quỷ….

Đáng tiếc thay, con người thờ ơ với nguồn tình vĩ đại, hững hờ với lòng Chúa xót thương, bất cần ơn bình an thật… rồi cuối cùng, ngã lòng, thất vọng lao mình vào chỗ mất tất cả, mất nhân phẩm con cái Thiên Chúa, mất thân xác Đền Thờ Thiên Chúa, mất linh hồn và sự sống đời đời…

Trước tình cảnh bi đát của xã hội loài người vì mất bình an, mất niềm hy vọng, “Thông Điệp về Lòng Chúa Thương Xót” đã vang lên khắp thế giới như một tin vui bình an cho người tuyệt vọng. Con người phải được phục sinh, được bình an phục sinh duy nhất nhờ Tin vào Lòng Chúa Thương Xót, chứ không phải do công trạng của mình.

Từ việc tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót, con người được ơn biến đổi cách diệu kỳ, như Toma đã cất lên lời tuyên tín: “Lạy chúa, Lạy Thiên Chúa của con”.

“Con xin tôn vinh lòng thương xót Chúa thật lớn lao. Lớn hơn muôn vàn tội lỗi của con và nhân loại”

Xác tín ấy phải là của chúng ta, của những con người tội lỗi tày trời. Tội lỗi và ma quỷ không còn đủ sức khống chế chúng ta trong tuyệt vọng, nếu chúng ta biết mình có tội và tín thác vào lòng thương xót, lượng khoan hồng thứ tha của Chúa. Điều đáng sợ hơn cả, bất an hơn cả, là không biết mình có tội, tự nhận mình vô tội, hoặc tưởng mình đang siêu thánh.

Xác tín ấy song hành với việc sám hối và tin tưởng vào ơn thứ tha, vì “Trái tim Chúa Giê-su, ôi nguồn xót thương vô bờ, luôn tràn ơn thứ tha, dẫu cho đời con nhơ uế. Trái tim Chúa Giê-su, nơi con ký thác đời con, con sẽ không hề thất vọng vì ơn thứ tha vô cùng”

Ông Hai P, ở một họ lẻ, thuộc GX Ngọc Lâm hiện đang sống với người vợ thứ hai, không hôn phối. Được hai đứa con. Người vợ cũ có hôn phối, còn đang sống ở Sài gòn. Chuyện chia tay ngày ấy đầy nước mắt và chẳng đặng đừng. Hơn 30 năm sống trong tình trang rối, đã nhiều lần ông thất vọng ê chề, không nhà thờ, nhà thánh, bí tích gì cả. Lúc ấy ông hay nói:“Muốn xưng tội rước lễ lắm, mà có được đâu. Tội nhân công khai mà. Có đi lễ cũng vô ích thôi”.Cách đây 10 năm, nhờ anh em Legio tìm thăm và động viên, ông đã thường xuyên đi lễ, đọc kinh gia đình, cộng tác nhiệt thành với anh em Legio, mặc dầu ông không được rước lễ. Ông vẫn xác tín và giới thiệu Bức ảnh và bản kinh Lòng Thương Xót Chúa với mọi người rằng: “bí tích của tôi đây. Chỉ có lòng thương xót của Chúa mới cứu được tôi thôi”.

Ông đi dự Bế Mạc năm Thánh ở La Vang và xin được một số ảnh LTX Chúa, quí lắm. Mùa xuân năm nay, ông cùng Ảnh Lòng Chúa Thương Xót đến thăm nhiều bạn trong tình trạng rối, và tặng ảnh LTX Chúa với tâm sự: “bọn mình chờ tới chết mới may ra được lãnh các ơn cuối cùng, mới được bình an mấy ông à! Nhưng biết có kịp để lãnh không. Thôi thì hãy tin vào LTX Chúa lớn hơn tội của bọn mình, tội của nhân loại. Bọn mình là “đám rối của Lòng Chúa Thương Xót”. Mùa Chay và PS năm nay, người ta thấy có “đám rối” ấy đi lễ, vẫn thường ngồi với nhau ở góc cuối nhà thờ. Giờ rước lễ, họ quì gối, cúi đầu và đọc nhỏ nhỏ câu gì trong miệng. Hỏi ra mới biết, họ đọc “kinh cầu xin Lòng Thương Xót Chúa”. Nghe nói 3 giờ chiều thứ sáu, “đám rối của LTX Chúa” tập trung đọc kinh luân phiên ở nhà một người rối. Có anh em vui mừng nói:“Đám rối tui được bình an, nhờ tin vào lòng Chúa thương xót”.

Đó là câu chuyện của những người mang tiếng là tội nhân công khai. Còn biết bao nhiêu tội nhân chưa công khai, mà có thể trong đó có tôi, có bạn, có cả những người vẫn dương dương tự đắc khi mình có góp chút công, chút của, hay chút tài ba vặt vảnh vào công việc Giáo Hội mà xem thường người khác làm bẩn thỉu đến thờ.

Lòng Chúa Thương Xót đang thực hiện nhiều cách để mọi người Tin vào quyền năng và tình thương của Ngài, và được bình an thật.

Cưới vợ cho thằng Hai xong, ông bà Minh ở giáo xứ Đồng Tiến mừng rơn. Mừng rồi mơ lên chức ông bà nội. Ba tháng sau, nghe con dâu có bầu. Mừng hơn nữa. Ông Minh đi khoe với thiên hạ “Tui biết mà. Ai dám nói nó không biết chữa đẻ?”. Thai được 4 tháng, con dâu đi bệnh viện thăm thai. Con trai. Bình thường. Bình thường đến tháng thứ 6, rồi thứ 7, thứ 8. Vào tháng thứ 9, con dâu vào khám thai xong, ra, xỉu. Kết luận khó sinh, thai nhi có hội chứng down, não không bình thường. Hai vợ chồng ôm nhau khóc. Hoang mang trong lòng. Được tin, bà Minh nói ông Minh: “Ông chỉ giỏi cái khoe khoang. Không thấy ông đọc kinh cầu nguyện bao giờ. Kêu đi lễ chúa nhật, hôm thì đau bụng, hôm thì đau răng, hôm thì trở trời đau lưng nhức mỏi…đã lười biếng lại còn đỗ thừa, đỗ lỗi, tại, bị, vì…ông cha xứ mang tiếng nầy tiếng nọ”. “Như vậy là bà nói Chúa phạt tui đấy hả. Tui có tội thì phạt tui, mắc mớ gì phạt thằng cháu nội?” “Đúng là ông lý cùn. Ông đi xưng tội đi. Mùa chay rồi đó”. “Xưng tội với ông cha đó hả? chuyện đó của tui, bà khỏi lo”.

Cùng niềm lo lắng, chị của cô dâu đưa cho Bà Minh bức ảnh lòng thương xót, bản kinh và mời bà Minh đi đọc kinh 3 giờ chiều. Trễ hơn một tuần, mà con dâu vẫn chưa sinh. Càng lo, bà càng khẩn cầu lòng thương xót Chúa. Bà thúc giục ông: “Tui xin ông đi xưng tội đi, đọc kinh cầu nguyện cho con cho cháu, may ra mới lên được chức ông nội”. Bà cũng xin anh chị em nhóm LTX Chúa cầu nguyện cho con dâu của Bà. Thứ hai tuần thánh, trễ mười một ngày, con dâu bà Minh sinh được cháu trai. Mẹ tròn, con vuông. Cậu bé kháu khỉnh, già dặn, cứng cáp. Không có dấu hiệu nguy hiểm gì về down và sọ não, như đã tiên báo. Cả hai nhà nội ngoại mừng vui tạ ơn Lòng Thương Xót Chúa.

Chúa Giê-su đã chết đi và đã sống lại, tất cả đều do Lòng Thương xót nhân loại tội lỗi.  Vậy người tội lỗi được quyền hy vọng có một cuộc sống bình an thật ở đời nầy, nếu biết mình có tội và có lòng Tín Thác. Tin vui ấy được Thánh Phê-rô xác nhận: “Nhờ việc Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống”. (1Pr 1, 3).

Tạ ơn Chúa Giê-su, Lòng Thương xót của Chúa Cha.

Kính xin Thánh Nữ Faustina, và Chân Phước Gioan Phaolo II chuyển đến Thiên Chúa lời nguyện cầu của những tội nhân là chúng con đây, đang thành tâm sám hối và tín thác.

Lạy Chúa, Lời Chúa hôm nay mở ra cho chúng con thấy các vết đinh vết đòng của Đấng Sống Lại, đồng thời cũng mở ra cho chúng con nguồn ân sủng bình an từ vết đinh vết đòng đau thương ấy, là dấu chỉ tình yêu vô cùng của Chúa dành cho chúng con, những tội nhân công khai và chưa công khai. Xin cho chúng con biết mình có tội tày trời. Xin cho chúng con biết sám hối và tín thác vào Lòng Thương Xót Thứ Tha của Chúa. Amen.


———————————————————————————————-

PM. Cao Huy Hoàng 28-2-2011

Trái tim người Thầy, trái tim học trò

CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA, CN II Phục Sinh

Anh Chị em thân mến,

Thiên Chúa là tình yêu, một khi đã yêu, Ngài yêu cho đến cùng.

Thật ý nghĩa khi chúng ta chiêm ngắm hình ảnh Đấng Phục Sinh tỏ mình cho các môn đệ nhân Chúa Nhật “LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA”. Trong vài phút, chúng ta thử quan chiêm Trái Tim Giêsu, trái tim người Thầy; đồng thời cũng thoáng qua trái tim Tôma, trái tim học trò; nhờ đó, có thể hiểu được đôi chút lòng Chúa, đôi chút lòng ta.

Trái Tim Giêsu, một trái tim chan chứa yêu thương mà Tin Mừng không ngừng lặp đi lặp lại đã bao lần “Ngài chạnh lòng thương” trước cảnh cùng khốn của con người: Thấy dân chúng tất tưởi bơ vơ như chiên không người chăn, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy người ta khiêng đi chôn con trai duy nhất của một bà goá, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy những người phong cùi tiến đến từ xa, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy hai người mù đang dò dẫm lại gần, “Ngài chạnh lòng thương”… Và chắc hẳn các tông đồ, kể cả Tôma, cũng đã ít nhiều cảm nhận cái thổn thức “chạnh thương” đó nơi Thầy mình. Cũng trái tim đó, bởi đã chạnh thương cho đến cùng nên bị đâm thâu, để giọt máu sau hết và chút nước cuối cùng nhỏ xuống mà có lẽ Tôma đã chứng kiến xa xa hay ít nữa đã nghe thuật lại chiều ngày thứ Sáu hôm ấy vì ông không dám lại gần.

Trái Tim Tôma, một trái tim nhát đảm và ngờ vực. Thầy mất, không ai biết vì lý do gì, “Đi Đi Mô” rời bỏ cộng đoàn. Phải chăng trái tim Tôma đang tan nát vì thương tích, vì những vết đau dù không nhìn thấy nhưng là những thương tích có thật và đau thật. Một trái tim ngờ vực khủng hoảng đến tội nghiệp, “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài thì tôi không tin”. Ôi, còn đâu bao lời tiên báo và giáo huấn của người Thầy khả ái? Còn đâu những cảm nghiệm đầy thán phục khi chứng kiến bao phép lạ của Con Đức Chúa Trời?

Thật là mỉa mai, thật là chua xót cho người môn sinh tuyệt vọng. Thật là thất đoạt, thật là vô ích cho người Thầy luống công. Sự ngã lòng của Tôma xúc phạm đến Thầy đâu kém việc bán Thầy hay chối Thầy của hai bạn đồng môn! Có khi còn tệ hơn; bởi lẽ, Giuđa và Phêrô tránh né liên luỵ đến một người sắp từ giã cõi sống trong khi Tôma lại đan tâm chối nhận một Đấng vừa trở về từ cõi chết.

Vì thế, cũng bởi “chạnh thương” nên tám ngày sau, Vị Thầy lại phải hiện ra một lần nữa và trái tim đã yêu dấu loài người quá bội đó đã biết lựa lời khôn khéo nhẹ nhàng trách yêu người học trò. Ngài dỗ dành chứ không mắng mổ, chìu chuộng chứ không phỉ báng, “Hãy đặt ngón tay con vào đây, hãy nhìn xem tay Thầy, đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Thôi, đừng cứng lòng nhưng hãy tin”.

Lạ thay, Tin Mừng không nói đến việc Tôma có sấn tới thọc tay vào lỗ đinh Thầy, đặt tay vào cạnh sườn Thầy mà trong đó cũng có một trái tim hay không. Nhưng chúng ta có thể đoan chắc, chính Đức Giêsu Phục Sinh đã một lần nữa “chạnh thương chạm đến” và băng bó trái tim thương tích của người môn sinh.

Tim đụng tim, lòng chạm lòng! Nhờ đó, bình an lại đến với tâm hồn người môn đệ; và thay vì reo lên Magnificat, Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, cách nào đó, Tôma đã phải cất cao Credo, Tôi tin! Bởi lẽ, trước tiên là phải tin, sau đó mới có thể ca khen Đấng mình tuyên xưng.

Vậy là tim chữa lành tim, lòng cảm mến lòng. Tim Thầy chữa lành tim trò, lòng Thầy khoả lấp lòng môn đệ. Nhờ lòng Thầy chạnh thương mà từ đây, lòng người môn đệ xác tín thay cho ngờ vực; yêu mến thay cho hững hờ; chứng tá, thay cho trốn chạy; và bình an thay cho bất an.

Hơn lúc nào hết, có lẽ mỗi người trong chúng ta hôm nay, dù ở đấng bậc nào, cũng đều cảm thấy cần đến lòng Chúa xót thương hơn bất kỳ ai. Vì chỉ có Chúa mới là Đấng xót thật và thương thật; chỉ có Chúa mới biết được mỗi người cần đến lòng Ngài xót thương biết bao; chỉ có Chúa là Đấng có thể chữa lành, có thể hàn gắn, có thể băng bó, có thể đem về và trao tặng bình an, một sự bình an không ai lấy mất. Vì bình an của Chúa là chính Chúa.

Mừng kính Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta không quên cầu nguyện cách riêng cho các mục tử của mình và cho cả đoàn chiên được Chúa trao phó cho các ngài. Vì nhiều lúc, cả đoàn chiên lẫn chủ chiên cũng đang “đi đi mô”, bất an vì ngờ vực, hững hờ vì thiếu lòng mến, trốn chạy vì nhát đảm.

“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”.

“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”.

“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”.

———————————————-

Lm. Minh Anh (Gp. Huế).

Thứ Sáu Bát Nhật Phục Sinh: Chính Chúa Đó

Suy niệm Lời Chúa
Thứ Sáu Bát Nhật Phục Sinh
(Ga 21,1-14)

CHÍNH CHÚA ĐÓ

Phép lạ hôm nay được thánh Gioan kể lại và cũng là phép lạ cuối cùng của Chúa Giêsu nơi trần thế. Phép lạ này xảy ra sau khi Chúa Giêsu sống lại nghĩa là trong khoảng thời gian 40 ngày trước khi về trời. Nơi xảy ra phép lạ thì gần biển Tibêria, có lẽ gần thành Betsaida là quê hương cùng thánh Phêrô và Gioan là hai vai chính trong câu chuyện hôm nay.


Các môn đệ được lệnh qua chị Mađalêna là sẽ được gặp Chúa phục sinh ở Galilê (Mt 28,10). Trong khi chờ đợi, họ trở về sống nghề cũ là chài lưới, thánh Phêrô là người đầu tiên đi đánh cá. Và đêm ấy họ thức trắng đêm và tay trắng chẳng được con cá nào. Họ sửa soạn giũ lưới đi nghỉ thì Chúa hiện đến trên bờ. Trời tang tảng sáng để có thể nhận biết người và thuyền. Nhưng họ vẫn không nhận ra Chúa Giêsu đứng đó, cũng giống như trường hợp của Maria Mađalêna bên ngôi mộ (Ga 20,14), cũng như hai môn đệ Emmaus (Lc 14,13).

Từ xa xa Chúa Giêsu gọi các môn đệ một cách đầy yêu thương: “Các con à, có gì ăn không?” (c.5). Đó là một câu hỏi đối với dân miền biển phải hiểu rằng có đánh cá được gì chăng? Các môn đệ trả lời một tiếng vắn vỏi: “Thưa không” (c.5) như bộ mệt mỏi chán chường. Lúc ấy hình như lưới của họ đã thả ở bên trái mạn thuyền. Nên Chúa bảo họ thả lại bên hữu thuyền (c.6). Họ vâng lời và họ kéo được quá nhiều cá hơn sức họ mong tưởng. Thấy thế hẳn các môn đệ nghĩ lại phép lạ lần trước kia Chúa cũng bảo Phêrô ra khơi về đêm bắt cá nhiều đến nỗi phải nhờ thuyền bạn bè chở giúp (Lc 5,1-11).

Gioan là người đầu tiên phát giác ra đó chính là Chúa Giêsu. Ông nói: “Chính Thầy đó” (c.7). Lúc ấy Phêrô ở trần, chứng tỏ ông hoạt động hăng hái xuống khỏi thuyền, vì lúc ấy thuyền gần bờ, chỉ còn khoảng 90m. Thuyền vào bờ do Phêrô điều khiển. Lúc ấy Chúa bảo đem đến cho Ngài ít cá để nướng ăn điểm tâm. Lúc ấy các môn đệ mới nhận ra là Chúa và không ai dám hỏi gì nữa, không còn ai hồ nghi gì nữa (c.120. Điều đặc biệt là chính Chúa Giêsu hiện ra đã dọn cho các môn đệ một bữa ăn sáng.

Ở đây, chúng ta thấy một chi tiết là trong số 6,7 anh em tông đồ đi đánh cá mà chỉ một mình Gioan nhận ra Chúa trước hết, vì Gioan là người được Chúa yêu và yêu Chúa. Cũng chính ông là người tin đầu tiên sự kiện mộ trống (Ga 20,8). Thật đúng với điều thứ sáu của Bát Phúc là phúc cho kẻ có lòng trong sạch vì họ sẽ được thấy mặt Thiên Chúa (Mt 5,8). Gioan là người được công phúc hôm nay, rất có thể vì đó mà được phép lạ này thì sao.

Qua phép lạ này, họ tò mò đếm được 153 con cá lớn. Con số 153 cũng có một ý nghĩa là các nhà vạn vật học xưa cũng như nay đều công nhận cá biển gồm 153 loại cá lớn khác nhau. Ngoài ra con số 153 là do sự cộng lại của tất cả các con số (1+2.2+3…). Như thế có ý ám chỉ rằng nước Chúa như một mẻ lưới cá thu góp tất cả mọi tâm hồn (x.Mt 13,47), nước Chúa như một chuồng chiên (Ga 10,16). Chính Chúa Giêsu cũng đã từng quả quyết: ngày nào bị treo lên, sẽ kéo mọi người theo (x.Ga 12,32.6,44). Vậy thì con số 153 cũng là mẻ lưới ám chỉ nước Chúa mở rộng cho mọi tâm hồn tin nhận Chúa không phân biệt màu da chủng tộc, quê hương. Điều phân biệt là cá tốt cá xấu trong ngày tận thế.

Ngoài ra phép lạ này còn cho chúng ta thấy các tông đồ là những tay chài lưới nhiệt thành vâng lời. Họ đã làm việc với những phương tiện hết sức eo hẹp và có vẻ như thất bại buổi đầu… để họ biết sự thành công đến từ đâu, từ chính Thiên Chúa, chứ sức riêng họ chỉ là vâng lời như một dụng cụ trước Thiên Chúa (Lc 17,10).

Việc Chúa hiện đến giữa lúc họ làm việc mệt mỏi minh chứng Chúa đã phục sinh.

Thứ Năm Bát Nhật Phục Sinh: Bình an cho các con!

Thứ Tư Bát Nhật PS: Chúa Giêsu cùng đi với họ

Suy niệm Lời Chúa
Thứ Tư Bát Nhật Phục Sinh
(Lc 24,13-35)

CHÚA GIÊSU CÙNG ĐI VỚI HỌ

Emmaus là một ngôi làng khá nổi tiếng trong Cựu ước. Nhưng vào khoảng năm thứ ba trước Chúa Kitô đã bị tướng Varê phóng hỏa đốt đi. Sang tới Tân ước, Emmaus không mấy nổi tiếng nữa. Emmaus cách Giêrusalem khoảng 29km. Hai môn đệ quê ở Emmaus lên Giêrusalem để dự lễ Vượt qua với Chúa và các môn đệ khác. Xong xuôi công việc họ trở về quê.

Lần trở về này có tính cách vĩnh biệt thất vọng, vì Chúa đã chết rồi còn hy vọng gì nữa đâu mà ở lại Giêrusalem. Cho nên họ lầm lũi ra đi bên nhau trong khoảng chiều đổ muộn. Họ đi về đâu như bỏ cuốc ư? Họ quên bẵng đi Phêrô đã từng đại diện cho họ thưa Chúa: “Lạy Thầy, chúng con biết theo ai, vì Thầy mới có lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68). Nhưng mà chính lúc họ chán nản thất vọng, yếu đuối chạy trốn ấy thì Chúa đã đi tìm họ. Cũng như chính Ngài đã đi tìm Adong Evà, Cain, Lêvi, con chiên lạc và đứng ngoài cửa lòng mỗi người (Kh 3,20).

Trên đường Emmaus, hai môn đệ không rõ là ai bước đi bên mình. Chúa cũng đồng hành với họ. Nhưng mắt họ bị bưng che không nhìn ra Chúa Phục sinh (c.16), lòng họ bị ám ảnh bởi nỗi kinh hoàng Thập giá. Và rồi Chúa đã giải thích Kinh Thánh cho họ hiểu (c.27) và làm cho lòng họ bừng cháy lên niềm tin tưởng như đã chết, như cành đã lìa cây.

Ở đây chúng ta nhận ra một bài học là giá trị của Lời Chúa đã làm sống lại đức tin và sự can đảm của hai môn đệ Emmaus. Lời Chúa đã thay đổi được tấm lòng của hai người thất vọng, lấy lại niềm tin. Lời Chúa vẫn được gọi là khuôn vàng thước ngọc, là mẫu số chung, là đáp số cho những bài toán hóc búa. Lời Chúa là khiên mộc chở che (Tv 17), Lời Chúa là như sương mới… (Đnl 32,2), Lời Chúa là lương thực ban sự sống đời đời (Ga 6,68). Lời Chúa là đèn soi bước chân con (Tv 119). Lời Chúa sắc bén như gươm hai lưỡi (Dt 4,12). Lời Chúa tồn tại mãi mãi (Mt 24,35). Lời Chúa là lời cứu rỗi (Cv 13,26), lời sự sống (Ph 2,16), lời chắc chắn (1Tm 1,15). Nói tóm lại lời Chúa là lời sống và linh nghiệm.

Sống tức là chứa đựng một sức sống bên trong, nghĩa là có tác dụng thay đổi lòng người nên hoàn thiện làm cho con người can đảm sống giữa thử thách, thêm đức tin hy vọng và tình yêu. Lời Chúa linh nghiệm nghĩa là những gì Chúa phán đều thành sự thật và nếu chúng ta lấy lời Chúa phán áp dụng vào đời sống chúng ta, chúng ta sẽ thấy kết quả thực sự. Vậy nếu chúng ta không bao giờ tiếp xúc với lời Chúa, chúng ta sẽ không sống sự sống ấy, chúng ta không thể loan truyền hay chia sẻ sự sống ấy cho anh em mình được. Cũng như hai môn đệ Emmaus, liệu lòng họ có nóng lên nếu không có Lời Chúa, Chúa không bao giờ để họ ra về tay không.

Một bài học nữa cho chúng ta ở đây là các môn đệ Emmaus đã nhận ra được Thầy mình qua cử chỉ Chúa bẻ bánh (c.30-31). Dù việc bẻ bánh ở Emmaus chưa phải là Bí tích Thánh Thể (Theo Dupont, Grudmann…), và hai môn đệ đó không có mặt trong bữa tiệc ly làm sao họ biết cử chỉ của Chúa kia là bí tích Thánh Thể. Nhưng dù sao cử chỉ của Chúa ở Emmaus cũng là hình bóng, là dấu chỉ của bí tích Thánh Thể rồi. Lời Chúa quả quyết vẫn còn đó: “Ai ăn thịt Ta…” (Ga 6,54).

Nếu một đời chúng ta đã phục vụ Chúa, đã ăn của ăn của Chúa là Lời Chúa và Mình Chúa thì khi cảnh đời xế chiều, chắc chắn Chúa sẽ ở lại với ta và đưa ta vào bàn tiệc Nước Trời đã sắp sẵn cho ta.

Không có Chúa Giêsu, chiều rơi rất lẹ, bóng tối sẽ bao phủ kín. Có Lời Chúa là ánh sáng chúng ta đi đúng đường về tới Trời.