Tag: Chúa Giêsu

Tĩnh tâm thường niên Gia đình Thánh Tâm cụm số 1 Hạt Đông Tháp

gd2Hôm nay ngày 23 tháng 8 năm 2013 tại Giáo xứ Phi lộc, hạt Đông tháp toàn thể các thành viên Gia đình Thánh Tâm Cụm số 1 thuộc 13/15 giáo xứ, tổ chức cuộc tĩnh tâm thường niên, Ngay từ sang sớm đoàn người đã lũ lượt tập trung tề tựu nơi Thánh đường của giáo xứ sở tại để bắt đầu khai mạc.

IMG_4152IMG_4150IMG_4145IMG_4139IMG_4148IMG_4163IMG_4165       Về tham dự cuộc tĩnh tâm lần này có sự tham gia của Cha Đặc trách Pet Nguyễn Xuân Chính, Cha Linh hướng giáo cụm An tôn Hồ Thông, cha quản xứ Gioan baotixita . Ngoài ra cuộc tĩnh tâm cũng đón nhận sự có mặt của các đại diện GĐTT giáo phận, Hội đồng mục vụ giáo xứ Phi Lộc, đại diện của giáo xứ Phú Linh và đông đảo các Ban điều hành từ giáo cụm, giáo xứ,giáo họ , 236 vị tông đồ và gần 3700 các thành viên trong giáo cụm.

IMG_4155IMG_4156

Dưới sự chủ trì của Cha Đặc trách, cha Linh hướng các Thành viên đã được nghe chia sẻ cầu nguyện, nghe báo cáo tình hình gia đình Thánh tâm quốc tế, Quốc gia và trong hệ thống GĐTT giáo phận Vinh .Đồng thời đã thực hiện giờ chầu đề tạ Thánh Thể, Thánh Tâm Chúa Giê su thật là sốt sáng.
Buổi chiều có Cha quản hạt và quý cha trong giáo hạt Đông tháp đã về tham dự thánh lễ tạ ơn. Đặc biệt là sự có mặt và chủ tế thánh lễ của Đức cha Phao lô Ma ri a Cao Đình Thuyên Giám mục tiền nhiệm, trước đó ngày 20 tháng 8 năm 2013 Ngài cũng đã chủ tế thánh lễ tạ ơn cuộc tĩnh tâm cụm số 7 tại giáo xứ chính tòa tương lai Văn Hạnh.

                                                                                                                                 Pet Văn Cung

Thánh Tâm Chúa Giêsu và linh mục


Người ta kể về một loài chim có tên là Bồ nông. Những con chim mang bộ lông màu trắng này thường sống gần hồ nước mặn sâu trong đất liền. Mỗi lần kiếm ăn, chúng phải bay vài chục cây số để trở về biển khơi bắt cá. Có những ngày, vì giông bão, chim không kiếm được mồi, mà đàn con thì háu đói kêu la thảm thiết, chim mẹ không cầm lòng được, đã tự dùng mỏ mổ vào ngực mình cho chảy máu, nhỏ giọt cho con ăn, thay cho lương thực bổ dưỡng. Sau “bữa tiệc” ấy, người ta thấy nơi mỏ chim mẹ còn nhỏ dòng máu tươi, và những con chim con nằm im lìm, thỏa mãn. Thấy chim con được ăn no, chim mẹ tuy đau đớn về thể xác mà trong lòng vẫn vui. Vì thế, hình ảnh chim bồ nông trở thành biểu tượng cho lòng mẹ yêu thương con thắm thiết, sẵn sàng hiến mình cho con được sống.

Hình ảnh con chim bồ nông làm chúng ta liên tưởng đến tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh Gioan kể lại, khi Chúa Giêsu đã chết trên thập giá, những người lính lấy ngọn giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra (x. Ga 19,34). Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống mình vì tình yêu thương nhân loại. Máu và nước chảy ra là bằng chứng của một tình yêu bao la, tự hiến hy sinh cho đến cùng (x. Ga 13,1). Máu và nước cũng là tượng trưng cho bí tích Thanh tẩy và bí tích Thánh Thể. Các tín hữu được sinh ra và được nuôi dưỡng từ trái tim bị đâm thâu qua của Đức Giêsu. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu là suối nguồn hạnh phúc cho con người. Biết bao người đến với Thánh Tâm Chúa đã tìm được sự ủi an và sức mạnh siêu nhiên để tiếp tục bước đi dầu cuộc đời còn nhiều cay đắng. “Anh em hãy học với tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29). Thập giá là trường dạy khiêm nhường, là mẫu mực của tình bác ái. Như chim bồ nông mẹ hiến mình cho đàn chim con được sống, Đức Giêsu đã mở trái tim của Người để chúng ta được đón nhận sự sống siêu nhiên. Niềm vui của chim bồ nông mẹ là niềm vui của hy sinh tự hiến. Niềm vui của chim bồ nông con là niềm vui của nhận lãnh dồi dào. Chim mẹ đau mà vẫn vui vì biết rằng nỗi đau của mình đem lại cho chim con sự sống. Chim mẹ chẳng cần đắn đo suy tính xem sự hy sinh của mình có được chim con biết đến hay không. Đó là sự hy sinh không đòi điều kiện, không mong đáp đền. Sự hy sinh ấy nói với ta về huyền nhiệm của tình thương.

Hình ảnh con chim bồ nông cũng được dùng để diễn tả đời linh mục. Linh mục là người được thánh hiến để nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu. Qua sứ mạng của linh mục, nhân loại mọi nơi mọi thời được gặp gỡ Đức Giêsu, được đón nhận nguồn suối ơn lành từ Thánh Tâm Chúa. Sứ mạng của linh mục là dẫn đưa con người đến với Chúa và đem tình thương của Chúa đến cho con người. Chiếc áo dòng màu đen biểu tượng cho sự hy sinh khổ chế, mời gọi linh mục chết đi mỗi ngày để cho đàn chiên được sống, noi gương Đức Giêsu, mục tử nhân lành.

Người hạnh phúc nhất là người làm cho tha nhân được hạnh phúc. Đức Giêsu đã chết để đem hạnh phúc cho tha nhân. Xét theo khía cạnh này thì Đức Giêsu là người hạnh phúc nhất. Noi gương Đức Giêsu, linh mục dấn thân để đem cho người khác niềm vui và hạnh phúc. Linh mục được hưởng niềm vui khi thấy người tội lỗi trở về với Chúa, người mâu thuẫn làm hòa với nhau, người nghèo khó được ủi an nâng đỡ và người hấp hối được lãnh nhận các bí tích trước khi ra đi trong an bình. “Vinh quang Thiên Chúa là con người sống vui” (Thánh Irênê). Khi đem niềm vui cho tha nhân, linh mục loan truyền vinh quang của Thiên Chúa, làm cho hình ảnh của Chúa được thể hiện nơi gương mặt con người. Thiên Chúa yêu thương con người. Tình thương ấy được chứng minh bằng việc Ngài sai Con Một mình đến trần gian để đem cho họ ơn cứu rỗi, để rồi những ai tin nơi Người thì được sự sống đời đời (x. Ga 3,16).

Vì được kêu gọi nên giống Chúa Giêsu, “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”, linh mục có bổn phận phải nên thánh. Nhân dịp lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu năm nay, 15-6-2012, cũng là ngày cầu nguyện xin ơn thánh hóa các linh mục, Đức hồng y Mauro Piacenza, Bộ trưởng Bộ Giáo sĩ, dã gửi một thư chung cho các linh mục trên toàn thế giới. Ngài đã nhắc lại bổn phận cao quý này như sau: “Đây là vận mệnh tuyệt vời của chúng ta: chúng ta không thể nên thánh nếu không giúp anh chị em mình nên thánh; và không thể giúp anh chị em mình nên thánh, nếu trước hết chúng ta không nỗ lực thánh hóa chính mình”. Một linh mục thánh thiện là phúc lành của Thiên Chúa đối với cộng đoàn đức tin. Nói cách khác, đời sống đức tin của người tín hữu phụ thuộc rất nhiều vào sự thánh thiện của linh mục. Lịch sử Giáo Hội hoàn vũ cũng như tại Việt Nam đã có rất nhiều linh mục hy sinh nghèo khó, tận tụy vì đàn chiên, noi gương Đấng đã đến “không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mt 20,28). Đáng tiếc là đây đó vẫn còn những cá nhân linh mục sống ngược lại với ơn gọi nên thánh, giống như những nốt nhạc buồn trong bản trường ca của đời linh mục. Tuy vậy, không vì thế mà vẻ đẹp cao quý của hồng ân linh mục bị biến dạng, hay làm cho sứ mạng của linh mục trở thành lỗi thời. Đức hồng y Bộ trưởng đã đề nghị một “phương thuốc” cho các linh mục trước những khó khăn của thời đại hôm nay: “Chúng ta phải cầu xin Chúa quan phòng thôi thúc chúng ta nhiệt tâm khơi lại lý tưởng toàn hiến cho Chúa Kitô vốn là nền tảng chính yếu của sứ vụ linh mục”.

Như con chim bồ nông dành trọn tình thương yêu cho đàn con mình, linh mục cũng được mời gọi sống tình yêu thương bao dung với mọi người, không phân biệt lương giáo, giàu nghèo. Đời linh mục cũng thường được so sánh với ngọn nến, chấp nhận tan chảy, tiêu hao mòn mỏi để đem ánh sáng cho đời. “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13). Khi sống sứ mạng yêu thương để cho đi không tính toán, linh mục thực hiện đức ái ở mức độ cao cả nhất. Đây là nét đẹp chính yếu của đời linh mục. Nét đẹp đó đem lại cho linh mục niềm vui.

“Nên thánh” là nên giống Thánh Tâm Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã trải qua biến cố thập giá để chứng minh tình yêu bao la của Thiên Chúa. Linh mục không thể nên thánh mà chối từ thập giá. Thập giá gắn liền với đời linh mục, cũng như đã từng gắn liền với Đức Giêsu. “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16,24). “Bỏ mình” và “vác thập giá”, hai khái niệm này diễn tả những nét căn bản của đời Kitô hữu nói chung và đời tu nói riêng. Hành trình thập giá là hành trình của hy sinh gian khổ. Tuy nhiên, vì là con người, nên linh mục còn mang trong mình những yếu đuối và phải đối diện với những cám dỗ gắn liền với phận người. Và như thế, đời linh mục cũng là một cuộc chiến cam go để chọn lựa. Nên thánh là sự chọn lựa Thiên Chúa thay vì thế gian; chọn lựa bao dung thay cho hận thù; chọn lựa Nước trời thay cho những lợi lộc trần thế.

Vì đời linh mục có nhiều khó khăn thử thách, nên chúng ta cần cầu xin Chúa thánh hóa các linh mục, làm cho các ngài thực sự là dấu chỉ của Chúa giữa trần gian. Xin được mượn lời nhắn nhủ của Đức hồng y Bộ trưởng Bộ Giáo sĩ để kết thúc những dòng suy tư này: “Là những thừa tác viên của lòng Chúa thương xót, chúng ta biết rằng việc tìm kiếm sự thánh thiện luôn có thể khởi đầu lại bằng tâm tình sám hối và ơn tha thứ. Nhưng chúng ta cũng cảm thấy phải cầu xin điều ấy, trong tư cách cá nhân linh mục, nhân danh mọi linh mục và cho mọi linh mục”.

Hải Phòng, tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu 2012
Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Trái tim không ngủ yên


Có một bài tình ca mang tựa đề “Trái tim không ngủ yên” diễn tả tâm trạng của đôi bạn trẻ nam nữ yêu nhau. Dù xa nhau, họ vẫn cảm thấy gần gũi. Dù giận hờn, họ vẫn thấy dễ thương. Trái tim họ không ngủ yên, nhưng luôn thôi thúc người này nhớ tới người kia. Vì thế mà xa hóa nên gần, lạ hóa thành quen, và khổ đau được biến thành hạnh phúc.

Trong Cựu ước, bằng một lối hành văn “nhân cách hóa”, ngôn sứ Hô-sê đã diễn tả Thiên Chúa có một trái tim như trái tim nhân loại: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” (Hs 11,8). Thổn thức, bồi hồi, đó là tâm trạng cảm thương, băn khoăn trước một sự việc xảy đến cho mình hoặc cho người mình yêu mến, nhất là lúc gặp phải thử thách gian nan trong cuộc sống.

Trái tim Thiên Chúa “thổn thức, bồi hồi” vì “không nỡ từ chối Ép-ra-im, không nỡ nộp Ít-ra-en vào tay quân thù”. Thiên Chúa không lãnh đạm trước nỗi đau khổ bất hạnh của con người. Vì Ngài là tình yêu, nên trái tim của Ngài “không ngủ yên”. Ngài luôn yêu thương che chở con người và tạo vật. “Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?” (Ed 18,22). Ngay cả đối với những tội nhân, Ngài cũng không muốn họ phải chết, nhưng mong cho họ được may mắn và hưởng mọi sự tốt lành. Thiên Chúa yêu thương con người. Ngài luôn sẵn sàng tha thứ cho họ và Ngài cũng mời gọi họ hãy sống với nhau bằng trái tim. Chúng ta cùng suy tư về tình yêu thương bao la rộng mở của Ngài đối với mọi loài thụ tạo.

1- Trái tim Thiên Chúa là tình yêu thương vô bờ

Thiên Chúa yêu thương con người. Toàn bộ nội dung Kinh Thánh đều nhằm nói với chúng ta điều ấy. Thiên Chúa vừa mang gương mặt cương quyết của người Cha, vừa mang tấm lòng bao dung của người mẹ. Là Cha, Thiên Chúa mạnh mẽ dẫn đưa con người trên con đường ngay thẳng, quở phạt khi họ bất trung, tội lỗi. Là Mẹ, Thiên Chúa êm đềm che chở con người trước những bão giông, vỗ về động viên khi họ yếu đuối sai lầm.

Tình thương của Thiên Chúa đã được mặc khải nơi Đức Giêsu, Ngôi Lời giáng thế. Đức Giêsu là Thiên Chúa. Người mang trong mình một trái tim nhân loại. Trái tim của Chúa Giêsu đã rung cảm trước nỗi đau của con người, khi đối diện với bệnh tật, đau khổ và sự chết. Người đã “chạnh lòng thương” và đem lại cho con người niềm vui, ơn chữa lành và tha thứ. Nhờ việc Thiên Chúa mang trái tim nhân loại mà con người thấp hèn có thể gặp gỡ Đấng tối cao để tâm sự với Ngài. Đức Giêsu còn giới thiệu cho nhân loại biết rằng Thiên Chúa là Cha. Ngài cũng có một trái tim, vì Ngài là tình yêu. Nơi tình yêu của Ngài, không ai bị loại trừ hay phân biệt, vì Ngài làm cho mặt trời mọc lên nơi người công chính cũng như kẻ bất lương (x. Mt 5,45). Có biết bao phép lạ Đức Giêsu đã làm để minh chứng cho tình yêu diệu kỳ của Thiên Chúa. Bằng chứng lớn lao nhất cho tình yêu của Thiên Chúa là cuộc tử nạn của Người trên thập giá. Thập giá là lời tôn vinh quyền năng cao cả và tình thương vô biên của Thiên Chúa. Thập giá cũng biểu lộ vinh quang ngàn đời của Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo và Cứu độ thế gian.

Khi chứng tỏ cho con người thấy tình thương vô biên của Thiên Chúa, Đức Giêsu mời gọi con người hãy thương yêu nhau. Thương yêu là cốt lõi của giáo huấn Tin Mừng, là bổn phận chính yếu của các tín hữu. “Yêu thương là chu toàn Lề Luật ” (Rm 13,8-10). Không ai có thể tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu mà lại sống ngược với giới răn tình yêu. Không ai có thể nhận mình là môn đệ của Chúa mà vẫn sống trong hận thù. “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12). Tình yêu do Đức Giêsu đề nghị mang một chiều kích bao la, đến mức dành cho cả kẻ thù: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). Đức Giêsu là mẫu mực cho việc thực thi đức yêu thương, để rồi khi chúng ta bắt chước Chúa, là chúng ta nhân rộng những nghĩa cử của Người trên khắp trần gian, cho đến tận cùng thế giới.

2- Trái tim Thiên Chúa nhân hậu và bao dung

Thiên Chúa cũng là Đấng bao dung tha thứ đối với những ai thành tâm trở lại cùng Ngài. Lịch sử cứu độ là một chuỗi những sa ngã phạm tội của dân Ít-ra-en, đồng thời cũng ghi lại lòng nhân từ của Chúa. Câu chuyện vua Đa-vít là bằng chứng của lòng bao dung nhân từ của Chúa. Ông đã phạm tội, nhưng cũng đã sám hối. Lòng sám hối của ông đã làm nguôi cơn giận của Chúa và Ngài đã thứ tha. Hình ảnh người cha nhân hậu được Đức Giêsu diễn tả trong Tin Mừng Thánh Luca chương 15 cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người đến mức nào. Ngài tôn trọng tự do của con người. Ngài sẵn sàng đón nhận những ai thành tâm sám hối trở về và cho họ được phục hồi phẩm giá của người con trong mối tương quan với Chúa. Người cha nhân hậu đó chính là Thiên Chúa. Ngài có trái tim không ngủ yên, khi thấy con người sống trong tội lỗi. Ngài mong chờ họ trở về với chính lộ để được chia sẻ hạnh phúc và vinh quang của Ngài. Đức Giêsu đến trần gian để tìm kiếm con người lầm lạc, đưa họ về với Chúa. Người giống như người chăn chiên, tận tâm kiên nhẫn đi tìm con chiên lạc, vác lên vai, đưa về với đàn chiên.

“Hãy tha thứ!”, đó là một trong những nét nhấn quan trọng trong lời giảng dạy của Đức Giêsu. Thế giới hôm nay có nguy cơ hủy diệt lẫn nhau vì thiếu lòng bao dung tha thứ. Theo Chúa Giêsu, sự tha thứ không được đong đếm bằng số lượng, nhưng phải tha thứ hết lòng (x. Mt 18,21-22). Phải tha thứ luôn luôn, một cách bao dung, quảng đại. Nền tảng của lời mời gọi tha thứ là vì mỗi người chúng ta đều bất toàn và vì chính Chúa đã tha thứ cho chúng ta: “Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Và trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện” (Cl 3,13-14). Trên thập giá, Chúa đã cầu nguyện cho những người làm hại mình. Người đã làm gương cho chúng ta về sự tha thứ. Chính sự tha thứ sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui tràn đầy và tâm hồn bình an.

3- Trái tim Thiên Chúa trao ban hạnh phúc cho con người

Tình yêu đích thực là mong muốn cho người khác được hạnh phúc. Khi dấn thân phục vụ, chúng ta tìm được niềm vui. Khi cho đi chính bản thân mình, chúng ta cảm nghiệm được hạnh phúc dồi dào. Từ thuở ban đầu của lịch sử, Thiên Chúa tạo dựng con người để chia sẻ cho họ vinh quang của Ngài. Hành động sáng tạo chính là sự chia sẻ kỳ diệu ấy. Một tác giả đã viết: Giống như nước thủy triều, rút xuống nhường chỗ cho đất khô, Thiên Chúa sáng tạo như thu mình lại để nhường chỗ cho con người và tạo vật được hiện hữu.Thật thế, công trình sáng tạo cho thấy một Thiên Chúa yêu thương, muốn cho con người được hạnh phúc và chia sẻ vinh quang của Ngài.

Đức Giêsu đến trần gian để phục vụ con người. Mầu nhiệm nhập thể là sự “tự hủy mình ra hư không” để nên giống con người trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Các môn đệ và những người đương thời đã hết sức ngạc nhiên, khi thấy Đức Giêsu mạc khải một quan niệm mới về Đấng Thiên Sai, không giống như quan niệm của họ: ‘Con Người đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Phêrô đã can ngăn Chúa, vì ông không thể chấp nhận một quan niệm Thiên sai như vậy. Điều này khiến ông trả giá qua lời khiển trách của Chúa, như thể đó là ý muốn của Satan. Khi chiêm ngưỡng thập giá, chúng ta thấy sứ mạng dấn thân phục vụ của Đức Giêsu được thể hiện cách rõ ràng: Đức Giêsu đã tự nguyện nộp mình chịu khổ hình vì chúng ta. Người chấp nhận chết để cho chúng ta được sống. Người chịu lăng mạ để cho chúng ta được tôn vinh.

Trên thập giá, Đức Giêsu đã thốt lên: “Ta khát” (Ga 19,28). Cơn khát của Đức Giêsu không chỉ là cơn khát thể lý, mà Người khao khát đem cho con người tình yêu của Chúa Cha. Ngài cũng mong cho con người học bài học nơi thập giá để biết hy sinh cho nhau. Vì thế, trải dài cho đến tận cùng thời gian, cơn khát của Đức Giêsu vẫn thôi thúc chúng ta phải làm gì để mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân. Mẹ Têrêsa Calcutta, người sáng lập Dòng Thừa sai Bác ái đã đặt thành mục tiêu ưu tiên của dòng mình là dấn thân vì phần rồi các linh hồn, “đáp ứng cơn khát của Chúa Giêsu trên thập giá”. Người tín hữu được mời gọi chia sẻ cơn khát của Đức Giêsu bằng việc thao thức đem Tin Mừng cho anh chị em đồng loại. Loan báo Tin Mừng đối với chúng ta không chỉ là một việc làm thêm có tính tình nguyện, nhưng đó còn là một bổn phận gắn liền với đời sống Kitô hữu: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16).

Lạy Chúa Giêsu, xin làm cho trái tim chúng con trở nên giống như trái tim Chúa. Nên thánh đối với chúng ta chính là mang trong mình một trái tim của Chúa, một trái tim không ngủ yên trước nỗi đau của đồng loại. Khi có một “trái tim không ngủ yên”, chúng ta sẽ luôn thao thức để trở thành hoàn thiện, đồng thời giúp cho anh chị em mình gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu.

GM Giuse Vũ Văn Thiên

Nguồn: WHĐ

Mở rộng tâm hồn cho Thánh Tâm Chúa

Theo truyền thống, tháng Sáu được dành để kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, và Giáo hội kính trọng thể lễ Thánh Tâm vào ngày Thứ Sáu của tuần thứ hai sau lễ Hiện Xuống. Năm nay, ngày đó rơi vào ngày 15 tháng Sáu.

Thánh nữ Magarita Maria Alacoque

Đức Hồng Y Burke, khi trở thành Tổng Giám mục của giáo phận St. Louis vào năm 2004, đã viết cho giáo dân của mình rằng: “Chính Chúa đã tỏ cho chúng ta một cách thức tuyệt vời nhất để đón Người vào gia đình của chúng ta.”

Khi hiện ra với thánh Margarita Maria Alacoque ở Paray-le-Monial nước Pháp từ năm 1673 đến 1675, Chúa Giêsu đã mặc khải Trái Tim Người cho thánh nữ, và đã được tạc thành ảnh tượng.

Người nói: “Ta sẽ chúc lành cho những nơi trưng bày và tôn kính ảnh tượng Trái Tim Ta.” Đó là một trong 12 lời hứa của Chúa dành cho những ai tôn sùng  Trái Tim Người.

Khi mặc khải Trái Tim Người, Chúa Giêsu cũng căn dặn thánh Margarita Maria rằng: “Con hãy xem Trái Tim này yêu dấu loài người quá bội, không giữ lại gì cho mình, đến nỗi đã hoàn toàn cạn kiệt để tỏ cho họ thấy tình thương. Đáp lại, Ta chẳng nhận được gì ngoài sự vô ơn bạc nghĩa, vì những thái độ bất kính và phạm thánh, vì sự nguội lạnh và khinh dể họ dành cho Ta nơi bí tích tình yêu.”

Tôn sùng Thánh Tâm Chúa là đền bù sự vô ơn bạc nghĩa đó. Năm 1907, cha Mateo Crawley-Boevey thuộc Dòng Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria được ơn linh hứng thiết lập việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa để đem các gia đình và thế giới về cho Chúa Kitô.

Thánh Giáo hoàng Piô X dấn thân cổ võ việc tôn sùng này, ngài nói: “Cứu gia đình chính là cứu thế gian. Công việc mà các con đang làm là công việc cứu rỗi thế gian”.

Gloria Anson, nhà sáng lập và là Chủ tịch Tu đoàn Tông đồ Thánh Tâm ở Syracuse, New York, nói: “Tôn sùng Thánh Tâm là phương thế cho mọi thời, phương thế chống lại nền văn hóa sự chết. Và tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu giúp chúng ta an tâm rằng Thiên Chúa luôn ở cùng chúng ta. Và đây chính là điều mà ngày nay mọi gia đình cần phải biết.”

Đức Hồng Y Burke còn cho rằng: việc tôn sùng Thánh Tâm liên kết “nhà tạm của nhà thờ xứ với các gia đình, mời Chúa trở thành người bạn trung thành và thân mật nhất của chúng ta. Việc tôn sùng này là một phương thế sống; nghĩa là Đức Kitô là Vua của mọi tâm hồn và chúng ta ước mong Người ở cùng chúng ta luôn mãi.”

Đồng tình với nhận định đó, Donald St. Gelais, Giám đốc Trung tâm Quốc gia Tôn sùng Thánh Tâm, cho rằng: “Chúa Giêsu muốn ở đó để trở nên một phần của gia đình và trở nên người bạn tốt nhất của chúng ta.”

Nhiều gia đình đã được biến đổi khi tôn sùng Thánh Tâm Chúa. Gelais cho biết: một gia đình đã làm hòa với nhau sau nhiều năm ly thân, nơi một gia đình khác, cha mẹ đã tái tạo mối liên hệ gần gũi hơn với con cái.

Và Gelais khuyên: “Tất cả những gì bạn phải làm đó là hãy mở cánh cửa gia đình và tâm hồn bạn cho Chúa Giêsu, và Người sẽ làm những điều kỳ diệu trong gia đình bạn.”

Trong một lần đi mục vụ ở Tallahassee, Florida, vào năm 1999, Anson và cha Willliam Gaffney, cùng thuộc Tu đoàn Tông đồ Thánh Tâm, được mời đến tham dự buổi tôn kính Thánh Tâm Chúa tại gia đình của Kevin và Ann Mcglynn cùng với 5 người con của họ.

Gia đình này luôn luôn gắn bó với đức tin, nhưng sự tôn sùng Thánh Tâm đã giúp gia tăng niềm tin của họ. Gia đình McGlynn tôn kính tượng Thánh Tâm ở phòng khách. Ann nói: “Mỗi người đều cảm nhận rằng Đức Giêsu là Vua và là bạn, và chúng tôi giao phó mọi nỗi lo toan vào tay Người.”

Kevin thêm: “Ảnh tượng được tôn kính là quan trọng, vì đó là một dấu chỉ rõ ràng nơi Chúa Kitô ngự, và là trung tâm của gia đình. Khi bạn bước vào phòng và bạn thấy được đâu là “quả tim” của gia đình. Một cách chân thực và rõ rệt, nó mang Chúa Kitô đến với gia đình bạn, và vì thế làm cho gia đình trở thành Giáo hội tại gia. Khi đó bạn sẽ nhận ra Chúa Kitô là một người bạn và là Vua của gia đình.”

Ann nói: “Đó không phải là sự hiện diện của Chúa trong Thánh Thể như ở nhà thờ, nhưng là một sự hiện diện thiêng liêng. Chúa Giêsu ở ngay đó, được mời tham dự vào cuộc sống và mọi cử hành của cuộc sống gia đình.”

Đức Hồng Y Burke viết: “Toàn bộ ý nghĩa của việc tôn sùng Thánh Tâm là thông truyền ân sủng từ Thánh Thể tới các gia đình Kitô hữu và từ các gia đình Kitô hữu tới toàn thể thế giới.”

Việc tôn sùng và tận hiến cho Thánh Tâm Chúa luôn đi đôi với việc tôn sùng và tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria. Giáo hội có ý cử hành lễ Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ ngay sau lễ Thánh Tâm. “Không nghi ngờ gì nữa, trái tim giống trái tim Chúa Kitô nhất đó là Trái Tim Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm của Người; chính vì thế, phụng vụ cử hành hai lễ này liền nhau để thể hiện sự tôn kính.” Đó là lời của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI trong một buổi đọc kinh Truyền Tin năm 2005.

Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng liên kết hai việc tôn sùng này với nhau. Cha Gaffney giải thích: “Qua Đức Maria, chúng ta đến cùng Chúa Giêsu. Điều này thật đơn giản. Mẹ Maria biết Con Mẹ hơn chúng ta. Mẹ là Mẹ của Người. Mẹ sẽ dẫn chúng ta vào trong Trái Tim Chúa.”

12 điều Chúa hứa ban cho những ai tôn sùng Thánh Tâm


1. Ta sẽ ban cho họ mọi ơn cần thiết theo bậc sống.

2. Ta sẽ ban bình an cho gia đình họ.

3. Ta sẽ an ủi họ trong cơn gian truân.

4. Ta sẽ nên nơi nương náu vững chắc cho họ trong cuộc đời, nhất là trong giờ lâm tử.

5. Ta sẽ chúc phúc dư tràn trên mọi công việc họ làm.

6. Tội nhân sẽ tìm thấy nơi Trái Tim Ta suối nguồn và lòng thương xót vô tận.

7. Linh hồn nguội lạnh sẽ nên sốt sắng.

8. Linh hồn sốt sắng sẽ mau tiến tới đỉnh trọn lành.

9. Ta sẽ chúc lành cho những nơi trưng bày và tôn kính ảnh tượng Trái Tim Ta.

10. Cha sẽ ban cho các linh mục ơn lay chuyển các tâm hồn chai cứng nhất.

11. Những ai cổ động lòng tôn sùng này sẽ được ghi tên vào Trái Tim Ta, và không bao giờ bị xóa bỏ.

12. Với lòng thương xót quá bội của Trái Tim Ta, Ta hứa với con rằng tình yêu toàn năng của Ta sẽ ban cho tất cả những ai rước lễ chín ngày Thứ Sáu đầu tháng liên tiếp được ơn ăn năn thống hối vào giờ sau hết; họ không phải chết khi mất ơn nghĩa với Ta hay không lãnh nhận các bí tích; Trái Tim Ta sẽ nên nơi nương náu an toàn cho họ trong giờ sau hết.

 

Joseph Pronechen,
Open Your Home to the Sacred Heart of Jesus,
ncregister.com

Phaolô Phạm Lợi lược dịch

Thánh Tâm Chúa Giêsu và người Công giáo


KATHRYN JEAN LOPEZ

Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu có thể chỉ là một lễ trong tháng Sáu, nhưng đời sống Kitô giáo không đúng nếu không cử hành hằng ngày – một sự tận hiến mới, một sự kết hiệp với Chúa, và phát triển thành tình yêu cụ thể.

Lm Thomas Williams viết trong cuốn A Heart Like His: Meditations on the Sacred Heart of Jesus (Trái tim như Ngài: Suy niệm về Thánh Tâm Chúa Giêsu), NXB Circle Press: “Nhận biết Chúa Giêsu Kitô còn hơn là biết Ngài sống khi nào và ở đâu, hoặc Ngài nói gì và làm gì. Nghĩa là biết Ngài một cách thân mật hơn bằng cách đi sâu vào Thánh Tâm Ngài. Việc nhận biết Ngài giúp chúng ta yêu mến Ngài, bước vào tình bằng hữu với Ngài, và khiến chúng ta noi gương Ngài. Nhưng bắt chước Chúa Giêsu Jesus nghĩa là làm như Chúa đã làm, là cho phép Chúa Thánh Thần biến trái tim chúng ta giống trái tim Chúa hơn”.

Sách của Lm Thomas được giới thiệu là “sách bài tập” của tháng Sáu. Mới đây tôi nói với Lm Thomas: “Cha giải thích thế nào về các cách sùng kính này? Hôn kính và quỳ trước thánh tích các thánh thì sao? Thánh Tâm Chúa Giêsu khác với xương sọ của thánh nữ Agnes ở Piazza Navona tại Rôma?”

Từ “thánh tích” theo nghĩa đen là “vật còn lại”. Thánh tích có thể là một phần cơ thể, thậm chí là quần áo của vị thánh đó đã sử dụng, để nhắc nhớ điều thánh nhân đã làm.

Tuy nhiên, cũng quan trọng như thánh tích, Thánh Tâm Chúa Giêsu là điều khác, không là “vật còn lại”. Đó là trái tim thực sự bằng máu thịt vẫn đập nhịp vì mỗi chúng ta. Đó là biểu tượng tính nhân đạo và yêu thương của Ngài, tình yêu không lý thuyết suông hoặc tình toán, nhưng hiện hữu và trắc ẩn.

Làm sao đi vào sâu trong Thánh Tâm Chúa Giêsu?

Chúa Giêsu không như Julius Caesar hoặc Napoleon hoặc Churchill. Ngài còn hơn là nhân vật lịch sử mà chúng ta biết qua sách báo. Ngày nay Ngài vẫn sống, có thể tiếp cận mà không nhân vật lịc sử nào như vậy.

Vì Ngài có thật, hiện hữu và hoạt động trong cuộc đời chúng ta, chúng ta có cơ hội biết Ngài theo cách mà chúng ta không thể biết ai khác. Ngài sẵn sàng với chúng ta. Ngài mạc khải trái tim Ngài cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta nhận biết Ngài. Thế nên, chẳng hạn khi chúng ta đọc Phúc âm, chúng ta không chỉ đọc những từ ngữ vô hồn. Ngài nói riêng với mỗi chúng ta, vì Lời Ngài hằng sống. Muốn nhận biết Ngài, chúng ta phải dành thời gian cho Ngài, trò chuyện với Ngài, mở rộng cuộc đời mình đối với Ngài.

“Chúa Giêsu sẽ làm gì?” hay “Tôi sẽ làm gì nếu tôi là Chúa Giêsu?”

Đó là sự cám dỗ thường tình đối với chúng ta về Chúa Giêsu. Chúng ta “tái tạo” Ngài theo hình ảnh của chúng ta thay vì để Ngài tái tạo trái tim chúng ta theo hình ảnh Ngài. Thế nên đối với nhiều người, “làm điều Chúa Giêsu làm” nghĩa là làm thích nghi “quyền của Chúa Giêsu” vì quyết định và cách chọn lựa của Ngài. Chúng ta nói: “Tôi nghĩ Chúa Giêsu không làm vậy” mà không có nền tảng thực tế khác với trức giác của chúng ta.

Để vượt qua điều này, chúng ta cần khiêm nhường từ tâm khảm. Chúng ta cần xin Chúa Giêsu gởi Chúa Thánh Thần đến dạy dỗ chúng ta. Chúng ta cần học hỏi cách sống của Ngài, Lời Ngài, và hành động của Ngài. Chúng ta phải ngoan ngoãn mở lòng trí để Ngài có thể dạy chúng ta và tái tạo chúng ta. May thay, chúng ta có sự hướng dẫn chắc chắn của giáo hội theo nỗ lực của Ngài, điều này giải thoát chúng ta khỏi tính chủ quan mà chúng ta dễ mắc phải. Nếu chúng ta hiểu Chúa Giêsu và giáo huấn của Ngài không phù hợp với những gì giáo hội dạy, chúng ta cần ngoan ngoãn thay đổi.

Lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu là lòn tôn sùng “thực tế” thế nào?

Công giáo rất thực tế. Chính Chúa Giêsu cũng rất “tự nhiên”. Ngài chọn sinh ra nơi hang chiên lạnh giá. Ngài làm nghề mộc. Ngài làm rượu. Ngài đi bộ đường dài. Ngài lật đổ những chiếc bàn trong Đền thờ. Ngài chữa lành người mù bằng cách nhổ nước bọt xuống đất và trộn thành loại bùn bôi vào mắt người mù. Ngài biết khi người phụ nữ bị băng huyết chạm vào áo mình và có một sức mạnh xuất ra từ Ngài.

Chúa Giêsu hơn hẳn thuyết duy tâm riêng tư (esoteric spiritualism) tạo thành điều cốt lõi trong tâm linh Đông phương (Eastern spirituality). Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là bí tích sâu xa – luôn luôn hòa quyện những thứ vô hình và hữu hình, vật chất và tinh thần. Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu mời gọi chúng ta yêu thương ở nơi đây và ngay bây giờ, cụ thể, thực tế, như chính Chúa Giêsu đã làm. Không lý thuyết suông mà rất thực tế.

Tôi là ai và được tạo thành làm gì?

Mỗi chúng ta đều được tác tạo giống hình ảnh Thiên Chúa, và qua bí tích Thánh Tẩy chúng ta được trở nên người con trong Chúa Con. Chúng ta được nên giống Chúa Giêsu, nghĩ như Chúa Giêsu, hành đông như Chúa Giêsu. Ngài hoàn hảo, điều mà mỗi chúng ta nên mơ ước. Nhưng chúng ta được mời gọi nên giống Ngài không là cải trang bề ngoài, như cải trang vui lễ hội Halloween, nhưng là thay đổi từ bên trong. Chúng ta được kêu gọi để Ngài tái tạo trái tim chúng ta nên giống Thánh Tâm Ngài.

Tại sao Thánh Tâm Chúa Giêsu cực kỳ quan trọng?

Trái tim biểu hiện con người ở mức sâu xa nhất và chân thật nhất. Thánh Tâm Chúa Giêsu thể hiện tình yêu nồng nàn đối với Chúa Cha và mỗi chúng ta. Thánh Tâm Chúa Giêsu thể hiện các quy luật, sự nhận thức, khát vọng, quyết tâm, lòng trắc ẩn, sự dịu hiền. Thánh Tâm Chúa Giêsu là động lực khiến chúng ta hành động và làm cho chúng ta là chính mình.

Thánh Tâm Chúa Giêsu liên quan Mẫu Tâm Vô Nhiễm thế nào?

Chúa Giêsu và Mẹ Maria luôn ở cùng nhau. Không thể có Chúa Giêsu mà thiếu Đức Mẹ, cũng như bạn không thể có Chúa Giêsu mà thiếu Giáo hội.

Mẹ Maria dẫn chúng ta tới Chúa Giêsu, nhưng Chúa Giêsu cũng vui thích khi chúng ta sùng kính Mẹ của Ngài. Chúa Giêsu nói với thánh Gioan: “Này là Mẹ của anh” (Ga 19:27). Đức Mẹ là tặng phẩm của Chúa Giêsu trao cho chúng ta từ trên Thánh giá. Mẫu Tâm Đức Maria phản ánh Thánh Tâm Chúa Giêsu. Trái tim các Ngài hòa chung một nhịp đập: với sự tuân phục Thánh Ý Chúa Cha, lòng thương xót tội nhân, lòng ước muốn cho Nước Cha trị đến. Đây là lý do Giáo hội trao cho chúng ta hai lễ trọng này: lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu và lễ Mẫu Tâm Vô Nhiễm (Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ).

Hai lòng sùng kính này có quan trọng đối với các linh mục?

Các linh mục được mời gọi một cách đặc biệt để noi gương Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẫu Tâm Vô Nhiễm. Giáo dân có quyền hy vọng các linh mục cố gắng chân thành và thực sự phản ánh Chúa Kitô, cả về sự tốt lành và chân thật. Các linh mục không hoàn hảo và luôn được mời gọi hoán cải, nhưng vẫn có trách nhiệm đặc biệt. Đây là điều không thể nếu không nhờ sự cầu nguyện liên lỉ của giáo dân cho linh mục.

Để lớn lên trong đức tin và đức ái, chúng ta cần cảm nghiệm tình yêu của Chúa Kitô. Chúng ta cần hiểu tình yêu ấy, cảm nhận tình yêu ấy, nắm bắt tình yêu ấy, quy phục tình yêu ấy, đắm mình vào trong tình yêu ấy. Chỉ có sự trải nghiệm tình yêu mạnh mẽ về việc được chính Thiên Chúa yêu thương vô điều kiện thì mới khả dĩ làm chúng ta yêu mến Ngài và yêu thương tha nhân như chúng ta mong ước. Bằng cách nào?

Các thánh – bắt đầu với thánh sử Gioan – luôn dạy chúng ta rằng chúng ta chỉ có thể yêu thương khi chúng ta cảm nghiệm mình được yêu thương. Chỉ nhờ cảm nghiệm tình yêu mãnh liệt Ngài dành cho chúng ta thì chúng ta mới có thể yêu mến Ngài và yêu thương tha nhân. Tình yêu không là thứ chúng ta “chế tạo” trong chính mình hoặc là kết quả của sức mạnh của ý chí thuần túy. Như thánh Phaolô nói, đó là tình yêu của chính Thiên Chúa đã tuôn đổ vào chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần (x. Rm 5:5). Trước khi đó là điều chọn lựa thì tình yêu đã là tặng phẩm của Thiên Chúa.

Chất liệu thánh

Dĩ nhiên. Nhưng trong mắt Thiên Chúa, mỗi chúng ta đều là thánh nhân đang hình thành. Khi Thiên Chúa đoái nhìn ching1 ta, Ngài thấy chúng ta là các thánh mà Ngài đã tác tạo, vì tất cả chúng ta đều được kêu gọi nên thánh. Đó là mục đích chúng ta được tạo dựng.

Thiên Chúa luôn nói sự thật nhưng Ngài không mất thời gian tranh luận với người ta về nhu cầu phải là đúng. Ngài chỉ quan tâm làm điều tốt và hoàn tất sứ vụ được giao phó. Điều tốt nào là sự thật nếu người ta không biết đó là đúng?

Có một điều là sự thật và giúp người ta nắm bắt. Có điều khác đang được tranh luận và cố gắng chứng tỏ chúng ta đúng. Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến thế gian để làm chứng cho sự thật và “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Tôi” (Ga 18:37). Ngài muốn mọi người tin và trở nên hoàn toàn chân thật, nhưng Ngài cũng không ép ai làm vậy. Ngài làm cho sự thật có sẵn đối với những ai muốn. Chúa Giêsu nhận ra rằng con người chỉ chân thật khi tìm kiếm chân lý hoặc chỉ sáng suốt và tranh luận vì chân lý. Ngài không có thời gian tranh luận về chân lý.

Chúa Ba Ngôi là một cuốn sách khác – cuốn sách mà có thể bạn đang “nghiên cứu”, được trao ban sự phong phú – nhưng vì bạn đã ấp ủ điều đó trong cuốn sách đó: Nếu Đức Giêsu và Thiên Chúa là một với Chúa Thánh Thần, tại sao Đức Giêsu tạo uy tín nơi Chúa Cha qua Phúc âm?

Qua Phúc âm, Chúa Giêsu cho thấy rằng Ngài luôn biết mọi thứ Ngài có, là chính Ngài, đến từ Chúa Cha, Ngài vui mừng tạo uy tín nơi Chúa Cha và “làm cho Ngài thành Đền thờ” nếu bạn muốn. Ngài thích làm vinh danh Chúa Cha. Mặc dù Chúa Giêsu đồng bản thể với Chúa Cha (consubstantial with the Father), và không là thụ tạo như chúng ta, Ngài vẫn trao cho chúng ta tấm gương kỳ diệu về đức khiêm nhường: Hãy để Thiên Chúa là Đền thờ!

Tại sao sự khiêm nhường và sự tự hạ lại quan trọng đối với sự phát triển tâm linh?

Khiêm nhường không chỉ quan trọng mà còn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự phát triển tâm linh. Chúng ta thường là kẻ thù nguy hiểm nhất của chính mình. Chúng ta tìm kiếm chính mình khi đáng lẽ phải tìm kiếm Thiên Chúa. Ý muốn của chúng ta bị bóp méo chỉ trong nháy mắt, điều chúng ta làm cho Chúa và cho tha nhân lại bất ngờ trở thành cho chính mình. Để biết chúng ta không là gì và không thể làm gì là điều khôn ngoan nhất, với điều kiện điều đó được kết hợp với việc nhận biết rằng chúng ta có thể làm được tất cả nhờ Thiên Chúa.

Chúng ta nghĩ về Thiên Chúa là người cung cấp. Ở đây có một bài học: Bài học riêng biệt, có thể cho mỗi người nam và nữ? Phụ nữ thường nghĩ về đàn ông là “nhà cung cấp”, và đàn ông thường nghĩ mình phải vậy. Có thể là không thực tế? Thánh Tâm Chúa Giêsu có cách “chấn chỉnh” sự hỗn độn trong mối quan hệ giữa hai phái sau nhiều thập niên làm ngơ tông thư Sự Sống Con Người (Humanae Vitae)?

Chắc chắn đàn ông và phụ nữ quan hệ với Chúa Giêsu khác nhau, đây là điều tốt và thích hợp. Thiên Chúa muốn mỗi chúng ta yêu mến Ngài như chính mình, chứ không như người khác. Mỗi người phải yêu bằng tình chất (temperament) mà Ngài đã nhận, bằng phẩm chất và thiên phú đặc biệt, bằng tất cả kinh nghiệm đau thương và kỳ diệu. Thực sự con người đôi khi khó nhận biết sự lệ thuộc tuyệt đối (absolute dependence) vào Thiên Chúa, nhưng sự kiêu ngạo chi phối tất cả chúng ta, và làm chúng ta muốn là tạo hóa của chính mình (our own creators), trách nhiệm thuộc về chính chúng ta. Đó không là đường lối của Thiên Chúa!

Chúa Giêsu khao khát thế nào, cần mọi thứ thế nào?

Đó là điều mầu nhiệm để chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa đã cần chúng ta và Chúa Giêsu thực sự “khao khát” chúng ta. Chúa Giêsu khao khát yêu thương. Nhưng Ngài khao khát tình yêu của chúng ta để tình yêu của Ngài khả dĩ làm chúng ta đầy tràn hoàn toàn. Tình yêu của chúng ta không lấp đầy điều thiếu ở nơi Chúa Giêsu, nhưng mở ra cho chúng ta sự kết hiệp viên mãn mà Ngài muốn đối với chúng ta.

Một tâm hồn có thể khôn ngoan thế nào?

Bạn có thể nhớ lại rằng sách Các Vua quyển I tường thuật cách Thiên Chúa hỏi vua Solomon món quà nào mà ông thích khi khởi đầu triều đại, và vua Solomon đã xin ơn khôn ngoan. Thiên Chúa vui mừng với lời cầu xin này và nói: “Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước ngươi, chẳng một ai sánh bằng, và sau ngươi, cũng chẳng có ai bì kịp” (1 V 3:12). Khôn ngoan ám chỉ sự nhận thức thấu đáo về những gì thực sự là vấn đề và và khả năng phát hiện điều gì quan trọng để theo đuổi. Người khờ dại chú trọng quá nhiều về điều không đáng giá và lãng phí, còn người khôn ngoan tìm kiếm kho tàng thực sự và vĩnh cửu.

Đối thoại hòa bình thường đem lại bình an cho tâm hồn, phản chiến (antiwar) bảo vệ nhân dân. Bình an đích thực trong Đức Kitô là gì? Điều đó có nghĩa gì khi gọi Chúa Giêsu là Hoàng Tử Hòa Bình (Prince of Peace)?

Hòa bình thực sự mà Chúa Giêsu đem lại là hòa giải với Thiên Chúa (reconciliation with God). Ngài đem đến Thiên Chúa và quy tụ con người. Nơi Ngài, Ngài trở thành nhịp cầu nối kết Thiên Chúa với con người, đồng thời qua cuộc khổ nạn và sự chết của Ngài, Ngài triệt tiêu sự cừu địch khiến chúng ta xa cách Thiên Chúa.

Tất cả mọi thứ bình an – dù là bình an tâm hồn, bình an trong nhân dân hoặc bình an giữa các quốc gia – đều là kết quả của sự bình an nền tảng này. Sự hỗn loạn và chia cách vì tội lỗi, Chúa Giêsu đã “đại tu” và chữa lành.

Tại sao đưa Che Guevara vào sách?

Người ta thích nghĩ Chúa Giêsu là nhà cách mạng (revolutionary). Họ nghĩ Ngài là là người chống “hệ thống”, chống chính quyền, và biến Chúa thành “con người”. Tôi cố gắng chứng tỏ rằng khuôn mẫu này không bế tắc. Ngày nay không được ưa chuộng như “đức vâng lời”, khuôn mẫu này hình thành điều cốt lõi của việc Chúa Giêsu đáp lại Chúa Cha. Ngài yêu mến Chúa Cha và hoàn tất Thánh Ý trong mọi sự. Nhưng đức vâng lời của Ngài là vâng lời vì yêu thương của một người con, không vâng lời vì bị ép buộc hoặc miễn cưỡng như một nô lệ. Chúng ta không thể nên giống Chúa Giêsu nếu chúng ta làm theo ý riêng mình.

Điều gì quan trọng nhất về Thánh Tâm Chúa Giêsu khi viết sách này?

Khi tôi viết sách này, tôi nhận thấy rõ ràng rằng Chúa Giêsu là giếng nước không bao giờ cạn khô. Hằng ngày chúng ta có thể biết những điều mới lạ về Ngài, những điều ngạc nhiên và kỳ diệu. Chúng ta không bao giờ khánh kiệt sự phong phú của tính chất Ngài, và tình yêu Ngài dành cho chúng ta luôn luôn mới lạ và tốt đẹp. Điều này làm tôi nhận ra tại sao chúng ta không bao giờ chán ở trên Trời. Chúa Giêsu không bao giờ cũ hoặc lỗi thời. Mỗi ngày sống với Ngài là một khám phá mới và và là một bước tiến mới trong tình yêu vĩnh hằng của Ngài.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

Tìm hiểu Thánh Tâm Chúa Giêsu


TÌM HIỂU THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

Lòng sùng kính Thánh Tâm là dạng sùng kính đặc biệt đối với Chúa Giêsu. Chúng ta biết lòng sùng kính đó là gì và khi chúng ta xác định đối tượng, nền tảng, và hành động đúng lòng sùng kính này.

Khách thể đặc biệt của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa

Bản chất của vấn đề này phức tạp và thường trở nên nhiêu khê hơn vì những khó khăn nảy sinh từ thuật ngữ. Bỏ qua những thuật ngữ mang tính kỹ thuật quá, chúng ta sẽ tìm hiểu chính các ý tưởng, và chúng ta có thể sớm tìm ra ý nghĩa, sẽ tốt để ghi nhớ ý nghĩa và dùng chữ “trái tim” trong ngôn ngữ hiện hành.

(a) Trước hết, chữ “trái tim” gợi ý tưởng về một trái tim vật chất, một cơ phận chính đập nhịp trong lồng ngực, và chúng ta nhận thấy nó liên kết không chỉ với thể lý, mà còn với cảm xúc và đời sống luân lý. Trái tim bằng thịt này được chấp nhận là biểu tượn của cảm xúc và đời sống luân lý, do đó mà chữ “trái tim” có trong ngôn ngữ hình tượng, “trái tim” cũng chỉ định những thứ được hình tượng hóa là trái tim. Chẳng hạn, cách diễn tả “mở lòng”, “trao tặng trái tim”, v.v… Có thể biểu tượng đó không còn ý nghĩa vật chất. Như vậy, trong ngôn ngữ, chữ tâm hồn cũng không còn chỉ mang ý nghĩa về hơi thở, và chữ “trái tim” làm chúng ta nghĩ tới sự can đảm và yêu thương. Nhưng có thể đây là cách nói hoặc phép ẩn dụ chứ không hẳn là biểu tượng. Biểu tưởng là dấu hiệu thật, do đó mà phép ẩn dụ chỉ là dấu hiệu bằng lời nói; biểu tượng là cái thể hiện một cái khác, nhưng phép ẩn dụ là chữ dùng để chỉ định cái gì đó khác với nghĩa riêng của nó. Cuối cùng, trong ngôn ngữ, chúng ta luôn chuyển một phần thành tổng thể, và bằng cách nói tự nhiên, chúng ta dùng chữ “trái tim” để chỉ định một con người. Các ý tưởng này sẽ giúp chúng ta xác định khách thể của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa.

(b) Vấn đề nằm giữa ý nghĩa vật chất, ẩn dụ và biểu tượng của chữ “trái tim”; khách thể của lòng sùng kính này là trái tim bằng thịt, hoặc Tình yêu của Chúa Kitô được ẩn dụ hóa bằng chữ “trái tim”; hoặc trái tim bằng thịt, nhưng là biểu tượng của đời sống tình cảm và luân lý của Chúa Giêsu, và nhất là Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Chúng ta nói rằng sự tôn thờ trái tim bằng thịt là đúng, vì đó là biểu tượng và nhắc nhớ đến Tình yêu của Chúa Giêsu, đời sống tình cảm và luân lý của Ngài. Như vậy, dù trực tiếp với trái tim vật chất, nhưng không dừng lại ở đó: bao gồm tình yêu, khách thể chính, nhưng chỉ đạt đến và qua trái tim bằng thịt, dấu hiệu và biểu tượng của tình yêu. Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, phần quan trọng nhất của Thánh Thể Chúa, kông là lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như được hiểu và được chấp thuận bởi Giáo hội, và cách tương tự cũng được nói về lòng sùng kính Tình yêu của Chúa Giêsu như tách khỏi trái tim bằng thị của Ngài, hoặc nối kết không bằng hệ lụy nào khác hệ lụy của chữ theo nghĩa ẩn dụ. Do đó, trong lòng sùng kính này có hai yếu tố: yếu tố nhận biết và yếu tố tinh thần, trái tim bằng thịt biểu hiện và nhắc nhớ tới yếu tố tinh thần. Nhưng hai yếu tố này không hình thành hai khách thể riêng biệt, cơ thể và linh hồn cũng vậy. Do đó hai yếu tố đó là cần thiết cho lòng sùng kính này vì cơ thể và linh hồn là cần thiết đối với con người. Hai yếu tố này tạo nên một tổng thể, yếu tố chính là tình yêu, nguyên nhân của lòng sùng kính và lý do hiện hữu là linh hồn, đó là yếu tố chính trong con người. Do đó, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu có thể được xác định là lòng sùng kính Trái Tim Chúa Giêsu tới mức mà trái tim này biểu hiện và nhắc nhớ tới Tình yêu của Ngài, hoặc lòng sùng kính Tình yêu của Đức Giêsu Kitô, vì tình yêu này được nhớ lại và bày tỏ với chúng ta qua trái tim bằng thịt của Ngài.

(c) Do đó, lòng sùng kính hoàn toàn dựa vào biểu tượng của trái tim. Chính biểu tượng này truyền đạt ý nghĩa và tính duy nhất, và biểu tượng này được hoàn tất bằng sự biểu hiện của trái tim bị thương tích. Vì Thánh Tâm Chúa Giêsu bày tỏ cho chúng ta bằng dấu hiệu của Tình yêu của Ngài, vết thương ở Trái Tim hửu hình của Chúa Giêsu sẽ nhắc nhớ về vết thương vô hình của Tình yêu này. Biểu tượng này cũng giải thích rằng lòng sùng kính này, mặc dù dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu một vị trí cần thiết, vẫn là nhỏ bé do liên quan với khoa giải phẫu trái tim hoặc khoa sinh học. Nhưng, trong hình ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu, cách diễn tả biểu tượng này phải trổi vượt hơn mọi thứ, độ chính xác về giải phẫu học không được xem xét; nó có thể làm tổn thương lòng sùng kính bằng cách đưa ra biểu tượng ít hiển nhiên hơn. Rất đúng khi nói trái tim là biểu tượng được phân biệt với trái tim theo giải phẫu học: Tính phù hợp của hình ảnh có lợi cho cách diễn tả của tư tưởng này. Trái tim hữu hình cần thiết đối với hình ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu, nhưng trái tim hữu hình này phải là một trái tim biểu tượng. Cách quan sát tương tự về sinh học, trong đó lòng sùng kính này không thể hoàn toàn vô tư, vì trái tim bằng thịt được tôn thờ để biết Tình yêu của Chúa Giêsu ở đó, là Thánh Tâm Chúa Giêsu, là trái tim sống động thực sự, đã yêu thương và đau khổ; như chúng ta cảm nhận, Trái Tim đó đã chia sẻ đời sống tình cảm và luân lý của Ngài; tuy nhiên, như chúng ta biết, Trái Tim đó thô sơ về các hoạt động của đời sống con người, có một phần như thế trong các hoạt động thuộc đời sống của Ngài. Nhưng sự mặc khải về tình yêu của Đức Kitô không là dấu hiệu thuần túy bình thường, như trong mối tương quan của từ ngữ đối với một vật, hoặc của lá cờ đối với ý tưởng của một quốc gia; Trái Tim vẫn liên kết với đời sống của các việc tốt lành và yêu thương. Tuy nhiên, Trái Tm đó đủ đối với lòng sùng kính mà chúng ta biết và cảm nghiệm được sự kết hiệp thân mật này. Chúng ta không có gì để do with physiology của Thánh Tâm Chúa hoặc xác định các chức năng chính xác của trái tim trong đời sống hằng ngày. Chúng ta biết rằng biểu tượng của trái tim là biểu tượng dựa trên thực tế và nó cấu thành khách thể đặc biệt của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, lòng sùng kính này không có nguy cơ sai lầm.

(d) Trên tất cả, trái tim là là biểu tượng của tình yêu, và qua đặc tính này, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là điều tự nhiên. Tuy nhiên, hướng tới Trái Tim yêu thương của Chúa Giêsu thì sẽ gặp điều mà Chúa Giêsu liên kết với tình yêu này. Tình yêu này không là không là lý do Đức Kitô thực hiện và chịu đau khổ? Không là nội tại của Ngài, thậm chí còn hơn là ngoại tại của Ngài, đời sống ảnh hưởng tình yêu này? Mặt khác, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa, được hướng tới Trái Tim sống động của Chúa Giêsu, như vậy đã trở thành quen thuộc với toàn bộ đời sống nội tâm của Thầy Chí Thánh, với các nhân đức và tình cảm của Ngài, với tình yêu vô biên của Chúa Giêsu. Từ đó, sự mở rộng đầu tiên của lòng sùng kính này bắt nguồn từ Trái Tim yêu thương tới sự hiểu biết thân mật của Chúa Giêsu, tới tình cảm và nhân đức của Ngài, tới cảm xúc và đời sống luân lý của Ngài; từ Trái Tim yêu thương tới cách thể hiện yêu thương của tình yêu này. Vẫn có cách mở rộng khác, dù cùng ý nghĩa, được làm theo cách khác, bằng cách chuyển từ Trái Tim tới Ngôi vị, như chúng ta thấy, cách này rất tự nhiên. Khi nói về trái tim to lớn, chúng ta ám chỉ ngôi vị, như khi chúng ta nói tới Thánh Tâm Chúa Giêsu. Tuy nhiên, vì cả hai đều đồng nghĩa, nhưng khi chữ trái tim thường được nói tới con người, vì một con người như vậy được coi là liên quan cảm xúc và đời sống luân lý. Như vậy, khi chúng ta nói tới Chúa Giêsu là Thánh Tâm Chúa, chúng ta có ý nói rằng khi Chúa Giêsu bày tỏ Thánh tâm Ngài, Chúa Giêsu yêu thương và đáng yêu. Chúa Giêsu hoàn toàn được “tóm lược” trong Thánh Tâm Ngài như trong chính Ngài.

(e) Trong chính lòng sùng kính Chúa Giêsu, người ta không thể không thấy Tình yêu Ngài bị khước từ. Tc luôn “than thở” trong Kinh thánh, và các thánh cũng luôn nghe biết những lời than của tình-yêu-không-được-đáp-lại. Một trong các lĩnh vực chính của lòng sùng kính này là cân nhắc Tình yêu của Chúa Giêsu, vì chúng ta đã coi thường và làm ngơ tình-yêu-Ngài-dành-cho-chúng-ta. Chính Ngài đã mặc khải tình yêu này khi Ngài than thở với Thánh Margaritta Maria Alacoque (1647-1690).

(f) Tình yêu này được thể hiện mọi nơi trong Chúa Giêsu và trong cuộc đời Ngài, tình yêu đó có thể giải thích về Ngài bằng những lời nói và hành động của Ngài. Do đó, tình yêu này chiếu sáng hơn trong các mầu nhiệm sinh ra cho chúng ta, trong đó Chúa Giêsu sinh ra nhiều điều tốt và hoàn tất trong tặng phẩm là chính Ngài qua việc nhập thể, cuộc khổ nạn, và bí tích Thánh Thể. Hơn nữa, các mầu nhiệm này có vị trí trong lòng sùng kính này, ở bất kỳ nơi nào chúng ta tìm kiếm Chúa Giêsu và các dấu hiệu yêu thương của Ngài thì chúng ta đều tìm thấy ở một mức độ rộng lớn hơn trong các hành động vĩ đại của Ngài.

(g) Chúng ta biết rằng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đấng là biểu tượng của tình yêu, có trong tình yêu của Ngài dành cho nhân loại. Điều này rõ ràng, vì điều này có trong tình yêu của Ngài dành cho nhân loại, Thánh Tâm Ngài đã quá yêu chúng ta, như Ngài đã mặc khải cho Thánh Margaritta Maria Alacoque.

(h) Cuối cùng, vấn đề là tình yêu đó thể hiện qua lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Ngài yêu chúng ta với tư cách một con người và yêu chúng ta với tư cách Thiên Chúa, đó là lòng thương xót bao la của Ngài. Chắc chắn đó là tình yêu của Thiên-Chúa-làm-người, tình yêu của Ngôi-Lời-nhập-thể. Tuy nhiên, đó không là những con người sùng mộ nghĩ về việc tách rời 2 tình yêu này như họ đã tách rời 2 bản tính trong Chúa Giêsu. Ngoài ra, mặc dù chúng ta có thể muốn giải quyết phần này của vấn đề bằng mọi cách, chúng ta có thể thấy rằng các ý kiến của các tác giả đều khác nhau. Một số người cho rằng Trái Tim bằng thịt chỉ được liên kết với tình yêu nhân loại, họ cho rằng đó không là biểu tượng của Tình yêu Thiên Chúa. Hơn nữa, không riêng ngôi vị của Chúa Giêsu, do đó, Tình yêu Thiên Chúa không là khách thể trực tiếp của lòng sùng kính này. Một số khác cho rằng Tình yêu Thiên Chúa khác với Ngôi-Lời-nhập-thể không là khách thể của lòng sùng kính này, họ tin như vậy khi coi là tình yêu của Ngôi-Lời-nhập-thể, và họ không hiểu tại sao tình yêu này cũng không thể được biểu tượng là Trái Tim bằng thịt, hoặc tại sao lòng sùng kính này chỉ nên hạn chế là tình yêu sáng tạo.

Nền tảng lòng sùng kính Thánh Tâm

Vấn đề này có thể được cân nhắc theo 3 phương diện: lịch sử, thần học và khoa học.

1. Nền tảng lịch sử. Khi chấp thuận lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Giáo hội không tin thị kiến của Thánh Margaritta Maria Alacoque, coi đó là trừu tượng và kiểm tra chính lòng sùng kính này. Thị kiến của Thánh Margaritta Maria Alacoque có thể sai, nhưng lòng sùng kính này thì không sai, do đó xứng đáng và vững chắc. Tuy nhiên, sự thật là lòng sùng kính này được truyền bá chủ yếu do ảnh hưởng phong trào bắt đầu từ Paray-le-Monial; và trước khi được phong chân phước, thị kiến của nữ tu Margaritta Maria Alacoque đã được Giáo hội kiểm tra kỹ lưỡng, phán đoán những trường hợp như vậy không liên quan tính không sai lầm của bà nhưng chỉ ngụ ý tính chắc chắn con người đủ để bảo đảm tính tất nhiên của lời nói và hành động.

2. Nền tảng thần học. Thánh Tâm Chúa Giêsu, cũng như những thứ khác thuộc Ngôi vị của Ngài, xứng đáng để chúng ta tôn thờ, nhưng điều này không như vậy nếu Ngôi vị đó được coi là tách biệt và không liên kết với Ngôi vị này. Tuy nhiên, trong “Auctorem Fidei” (1) năm 1794, ĐGH Piô VI đã xác nhận lòng sùng kính này trong phương diện này để bác bỏ các lời vu khống của tà thuyết Jansen (2). Mặc dù sự tôn thờ này dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, mở rộng vượt ngoài trái tim bằng thịt, hướng tới tình yêu mà Trái Tim này là biểu tượng sống động và có ý nghĩa. Về điểm này, lòng sùng kính không đòi buộc sự biện hộ, vì điều đó thuộc về Ngôi vị của Chúa Giêsu được hướng tới, nhưng đối với Ngôi vị không thể tách biệt khỏi thiên tính của Ngài. Chúa Giêsu thể hiện sống động điều tốt lành của Thiên Chúa, của Tình Phụ tử yêu thương vô hạn, là khách thể của lòng sùng kính Thánh Tâm, vì Ngài thực sự là khách thể của Kitô giáo. Cái khó là sự hiệp nhất của trái tim và tình yêu, trong mối tương quan mà lòng sùng kính giữa điều này và điều kia.

3. Nền tảng triết học và khoa học. Về phương diện này cũng có sự không kiên định giữa các thần học gia, không coi là nền tảng của mọi vật mà về vấn đề giải thích. Đôi khi họ nói như thể trái tim là cơ phận của tình yêu, nhưng điểm này không có nền tảng về lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, đủ để nói rằng trái tim là biểu tượng của tình yêu, và đối với nền tảng của biểu tượng, sự-nối-kết-thực-tế hiện hữu giữa trái tim và các cảm xúc. Ngày nay, biểu tượng của trái tim là một thực tế và mọi người đều cảm thấy trong trái tim có một loại tiếng vang của tình cảm. Nghiên cứu sinh lý về tiếng vọng này có thể rất thú vị, nhưng không cần đối với lòng sùng kính, vì nền tảng của lòng sùng kính là sự kiện đã được kiểm chứng bằng kinh nghiệm hằng ngày, sự thật mà nghiên cứu sinh lý xác định các tình trạng, nhưng không đòi hỏi nghiên cứu này hoặc bất kỳ sự hiểu biết đặc biệt nào với chủ thể của nó.

Hành động riêng của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

Hành động này được đòi hỏi bởi chính khách thể của lòng sùng kính, vì lòng sùng kính tình yêu của Chúa Giêsu đối với chúng ta nên là lòng sùng kính nổi trội về tình yêu đối với Chúa Giêsu. Lòng sùng kính này được thể hiện bằng việc đáp lại tình yêu; mục đích của lòng sùng kính này là yêu mến Chúa Giêsu, Đấng yêu thương chúng ta vô cùng, để tình yêu đáp lại tình yêu. Tuy nhiên, tình yêu của Chúa Giêsu thể hiện với linh hồn đạo đức là tình yêu bị coi thường, nhất là qua Bí tích Thánh Thể, tình yêu này đươc diễn tả trong lòng sùng kính này có tính đền đáp, và do đó có sự quan trọng của việc đền tội, rước lễ để đền tội, và chia sẻ đau khổ của Chúa Giêsu. Nhưng không gì có thể làm kiệt quệ sự phong phú của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Tình yêu là sự ấp ủ linh hồn, càng hiểu biết tình yêu thì càng gắn bó với Chúa Giêsu, kết hiệp mật thiết vớ Ngài, với Thánh Tâm Ngài.

Ý tưởng lịch sử về việc phát triển lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

1. Từ thời Thánh Gioan và Thánh Phaolô, trong Giáo hội cũng đã có những cách sùng kính như lòng sùng kính Tình Yêu của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thế gian đến nỗi trao ban chính Con Một của Ngài, và chính Chúa Giêsu cũng yêu thương chúng ta đến nỗi hiến thân vì chúng ta. Nhưng, nói một cách chính xác, đây không là lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, vì không có lòng kính trọng Thánh Tâm Chúa Giêsu như biểu tượng của Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Từ các thế kỷ đầu, phù ợp với gương của của Thánh sử, cạnh sườn của Đức Kitô và mầu nhiệm Máu và Nước đã được suy niệm, và Giáo hội chiêm ngưỡng những gì chảy ra từ cạnh sườn của Chúa Giêsu, như bà Êva được tạo nên từ xương sườn của ông Adam. Nhưng trong 10 thế kỷ đầu không có gì chứng tỏ điều đó, không có sự tôn thờ nào dành cho Trái Tim bị thương tích ấy.

2. Thế kỷ XI và XII, chúng ta thấy có những cách chứng tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Vết thương ở Trái Tim dần dần được đạt tới, và vết thương đó là biểu tượng của tình yêu. Đó là trong không khí nhiệt thành của Dòng Biển Đức hoặc Dòng Xitô, theo tư tưởng của Thánh Anselmô hoặc Thánh Bênađô, rằng lòng sùng kính này tăng lên, dù không thể xác định các văn bản hoặc những người sùng kính đầu tiên. Theo Thánh Gertrude, Thánh mechtilde, và tác giả bản “Vitis mystica” (Cây nho Thần bí) đã nổi danh, chúng ta không thể chắc chắn xác định ai đã có công soạn “Vitis mystica”. Cho tới thời gian gần đây, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đã được quy cho Thánh Bênađô, nhưng cũng có thể quy cho Thánh Bônaventura (“S. Bonaventura opera omnia”, 1898, VIII, LIII sq.). Nhưng, có thể vậy, nó gồm một trong những đoạn ahy đã từng truyền cảm hứng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, thích hợp để Giáo hội có những bài học về kinh đêm của ngày lễ. Đối với Thánh Mechtilde (qua đời năm 1298) và Thánh Gertrude (qua đời năm 1302), đó là lòng sùng kính tương tự đã được chuyển thành nhiều lời nguyện và cách sử dụng. Điều đáng quan tâm là thị kiến của Thánh Gertrude vào chính ngày lễ Thánh Gioan Tông đồ, vì điều đó đã hình thành lịch sử của lòng sùng kính này. Được tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu, bà đã nghe nhịp đập của Thánh Tâm Chúa Giêsu và hỏi Thánh Gioan rằng trong Bữa Tiệc Ly, ngài cũng nghe những nhịp đập kỳ diệu như vậy mà sao ngài không nói gì. Thánh Gioan trả lời rằng mặc khải này đã được giữ cho các hậu duệ, khi mà thế giới trở nên nguội lạnh, họ cần nhen nhóm lại tình yêu này (Legatus divinae pietatis, IV, 305; Revelationes Gertrudianae, ed. Poitiers and Paris, 1877).

3. Từ thế kỷ XIII tới XVI, lòng sùng kính này được truyền bá nhưng vẫn không phát triển nhiều. Khắp nơi được thực hành bởi các linh hồn được đặn ân, các thánh và các dòng tu như Dòng Phanxicô, Dòng Đa Minh, Dòng Carthusians, v.v… có nhiều tấm gương về lòng sùng kính này. Vì thế, đó là lòng sùng kính riêng của các dòng thần bí này. Không có gì khởi đầu, chỉ có viêc truyền bá lòng sùng kính Năm Dấu Thánh, trong đó Dấu Thánh ở Thánh Tâm được lưu ý nhất, và để xúc tiến điều đó, Dòng Phanxicô đã nỗ lực nhiều.

4. Khoảng thế kỷ XVII, lòng sùng kính tiếp tục phát triển và chuyển từ lĩnh vực thần bí sang lĩnh vực khổ hạnh Kitô giáo. Điều đó cấu thành một lòng sùng kính khách quan bằng những lời cầu nguyện được soạn sẵn và các cách thực hiện đặc biệt mà giá trị và cách thực hành đó được ca tụng. Chúng ta biết điều này nhờ các văn bản của các “sư phụ” về đời sống tâm linh là Lanspergius đạo hạnh (qua đời năm 1539), Dòng Carthusians ở Cologne, tu sĩ đạo hạnh Louis Blois (Blosius, 1566), Dòng Biển Đức, và Tu viện trưởng Liessies ở Hainaut. Có thể kể cả Chân phước Gioan Avila (qua đời năm 1569) và Thánh Phanxicô Salê, thế kỷ XVII.

5. Từ đó, mọi thứ cho thấy rõ lòng sùng kính này. Các tác giả khổ hạnh nói về điều đó, nhất là các tác giả Dòng Tên như Alvarez de Paz, Luis de la Puente, Saint-Jure, và Nouet, vẫn có những thỏa thuận đặc biệt về vấn đề này như tác phẩm nhỏ “Meta Cordium, Cor Jesu” của LM Druzbicki (qua đời năm 1662). Trong số các nhà thần bí và các linh hồn đạo đức tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu có Thánh Francis Borgia, Chân phước Phêrô Canisiô, Thánh Aloysiô Gonzaga, và Thánh Anphong Rodriguez, Dòng Tên; kể cả Tôi tớ Chúa Marina de Escobar (qua đời năm 1633), ở Tây Ban Nha; Bậc đáng kính Madeleine Thánh Giuse và Tôi tớ Chúa Margaritta Thánh thể, Dòng Cát Minh, Pháp quốc; Jeanne de S. Mathieu Deleloe (qua đời năm 1660), Dòng Biển Đức, Bỉ quốc; Armelle ở Vannes (qua đời năm 1671); thậm chí cả những người theo thuyết Jansen hoặc các trung tâm thế giới, Marie de Valernod (qua đời năm 1654) và Angélique Arnauld; M. Boudon, the great archdeacon ở Evreux, Linh mục Huby, tông đồ ẩn dật ở Brittany, và đặc biệt là Bậc đáng kính Maria Nhập Thể (qua đời tại Quebec năm 1672). Trực giác của Thánh Phanxicô Salê, các bài suy niệm của Mẹ Huillier (qua đời năm 1655), các thị kiến của Mẹ Anne-Marguerite Clément (qua đời năm 1661), và của nữ tu Jeanne-Bénigne Gojos (qua đời năm 1692) là những cái khởi đầu. Linh ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu có ở khắp nơi, đó là nhờ lòng sùng kính của Dòng Phanxicô đối với Năm Dấu Thánh và thói quen tốt lành của Dòng Tên thường đặt linh ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu trên các cuốn sách và trên tường nhà nguyện.

6. Tuy nhiên, lòng sùng kính này vẫn là riêng tư cá nhân. Thánh LM Gioan Eudes (1602-1680) đã công khai hóa để tôn kính bằng một Thánh lễ. LM Eudes là tông đồ của Trái Tim Đức Mẹ, nhưng việc ngài tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm có cả Thánh Tâm Chúa Giêsu. Dần dần lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trở nên lòng sùng kính riêng biệt, và ngày 31-8-1670, lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu lần đầu tiên được cử hành trọng thể tại Đại chủng viện Rennes. Theo sau là ở Coutances vào ngày 20-10, vì thế ngày này có liên quan lễ Thánh Eudes. Lễ này mau chóng lan rộng tới các giáo phận khác, và lòng sùng kính này cũng xuất hiện tại nhiều dòng tu. Đây đó cũng bắt đầu có lòng sùng kính này, khởi đầu từ Paray.

(7) Chính Thánh Margaritta Maria Alacoque, một nữ tu khiêm nhường của Dòng Thăm Viếng ở Paray-le-Monial, đã được Chúa Giêsu chọn để mặc khải những mong muốn của Thánh Tâm Ngài và giao nhiệm vụ phổ biến cách sống mới đối với lòng sùng kính này. Không có gì cho biết rõ rằng nữ tu đạo hạnh này đã biết lòng sùng kính này trước những lần được mặc khải, hoặc là bà đã chú ý tới điều đó. Các mặc khải này nhiều lắm, và những lần hiện ra tiếp theo rất đáng chú ý: Chúa Giêsu hiện ra vào ngày lễ Thánh Gioan, khi Ngài cho phép nữ tu Margaritta Maria Alacoque, như Ngài đã cho phép Thánh Gertrude, được tựa đầu vào ngực Ngài, được nghe những nhịp đập yêu thương của Ngài, được biết Ngài muốn bày tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa cho toàn nhân loại và loan truyền lòng nhân lành của Chúa. Ngài bày tỏ cho bà điều này vào ngày 27-12, có thể là năm 1673. Ngài hiện ra với lòng yêu thương và yêu cầu tôn sùng tình yêu cứu chuộc (expiatory love) – rước lễ thường xuyên, rước lễ vào ngày Thứ Sáu Đầu Tháng, và làm Giờ Thánh (có thể là tháng 6 hoặc tháng 7-1674); đó là lần hiện ra quan trọng xảy ra trong tuần bát nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi) năm 1675, có thể vào ngày 16 tháng 6, khi Chúa Giêsu nói: “Hãy ngắm nhìn Thánh Tâm Ta yêu thương nhân laoị biết bao… Nhưng thay vì được biết ơn, Ta chỉ nhận được sự vô ơn…”, và Ngài yêu cầu bà vận động thành lập lễ kính Thánh Tâm vào Thứ Sáu sau lễ kính Mình Máu Thánh, và nói bà cho LM Colombière biết, lúc đó LM Colombière là bề trên Dòng Tên tại Paray.

Cuối cùng, lòng sùng kính này là trách nhiệm loan truyền của Dòng Thăm Viếng và các linh mục Dòng Tên. Vài ngày sau lần hiện ra quan trọng đó, tháng 6-1675, nữ tu Margaritta Maria Alacoque đã nói với LM Colombière, và điều này được nhận biết là tinh thần của Chúa, LM Colombière đã tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, hướng dẫn nữ tu Margaritta Maria Alacoque viết lại việc thị kiến, được dùng ở Pháp quốc và Anh quốc. Khi LM Colombière qua đời, 15-1-1682, người ta phát hiện bản chép tay mà ngài đã yêu cầu nữ tu Margaritta Maria Alacoque viết, cùng với vài nhận xét về lợi ích của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Bản giải thích lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu được xuất bản tại Lyons năm 1684. Cuốn sách nhỏ này được đọc nhiều, ngay cả ở Paray, dù vẫn có sự lầm lẫn về Thánh Margaritta Maria Alacoque, người đã có công truyền bá lòng sùng kính này. Moulins với Mẹ de Soudeilles, Dijon với Mẹ de Saumaise và nữ tu Joly, Semur với Mẹ Greyfié, và thậm chí ở Paray, đã phản đối nhưng rồi lại hòa nhập. Ngoài các tu sĩ Dòng Thăm Viếng, các linh mục, các tu sĩ, và giáo dân đã tán thành, đặc biệt là một tu sĩ Dòng Phanxicô, hai tu sĩ Dòng Thánh Margaritta Alacoque, và một số tu sĩ Dòng Tên, các linh mục Croiset và Gallifet, đã hành động nhiều vì lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.

(8) Sau khi Thánh Margaritta Maria Alacoque qua đời ngày 17-10-1690, lòng nhiệt thành của những người này vẫn không giảm sút; ngược lại, năm 1691, LM Croiset đã cho xuất bản cuốn “De la Dévotion au Sacré Cœur” (Về việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu) để truyền bá lòng sùng kính này. Mặc dù gặp nhiều trở ngại, sự trì trệ của Tòa thánh, năm 1693 đã có Huynh đoàn Thánh Tâm Chúa (Confraternities of the Sacred Heart), năm 1697, đã giao hội này cho các tu sĩ Dòng Thăm Viếng với lễ Năm Dấu Thánh (Mass of the Five Wounds). Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu phát triển mạnh, nhất là tại các dòng tu. Năm 1720, dịch bệnh ở Marseilles có thể là dịp đầu tiên để tận hiến và công khai tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu bên ngoài các cộng đoàn tu. Các thành phố khác ở miền Nam noi gương của Marseilles, thế nên lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trở nên phổ biến. Năm 1726, người ta xin ý kiến của Rôma về lễ Thánh Tâm, nhưng Rôma vẫn từ chối vào năm 1729. Tuy nhiên, năm 1765, theo yêu cầu của Nữ hoàng, lễ này chính thức được các giám mục Pháp đón nhận. Năm 1856, theo yêu cầu của các giám mục Pháp, ĐGH Piô IX đã mở rộng lễ này cho Giáo hội hoàn vũ bằng một nghi thức trang trọng. Năm 1889, lễ này được Giáo hội nâng lên thành lễ bậc nhất. Việc tận hiến và chuẩn bị cho việc sùng kính này. Nhất là từ năm 1850, các cộng đoàn và các nhà dòng được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, và năm 1875, việc tận hiến này được mở rộng ra cả thế giới Công giáo. ĐGH vẫn không muốn can thiệp. Cuối cùng, ngày 11-6-1899, theo lệnh của ĐGH Lêô XIII, và theo công thức ngài lập ra, cả thế giới được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. ĐGH Lêô XIII gọi điều này là “điều vĩ đại” trong triều đại giáo hoàng của ngài, điều mà một nữ tu Dòng Chúa Chiên Lành ở Oporto (Bồ Đào Nha) đã nói rằng bà nhận từ chính Chúa Giêsu. Bà là thành viên của cộng đoàn Drost-zu-Vischering, và được biết đến là nữ tu Maria Thánh Tâm Chúa. Bà qua đời vào đúng ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, 2 ngày trước khi tận hiến, điều được hoãn lại vào Chúa nhật kế tiếp. Trong khi nói tới điều này, chúng ta đừng quên nói tới lòng sùng kính riêng trong các linh hồn. Vả lại, chúng ta đừng bỏ qua tính xã hội trong những năm sau. Nhất là Giáo hội Công giáo Pháp bám sát điều này như niềm hy vọng mạnh mẽ nhất của ơn cứu độ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NewAdvent.org)

(*) Auctorem Fidei là sắc chỉ của ĐGH Piô VI, vào năm 1794, lên án 85 luận đề của Nghị hội phái Jansenist của Ý ở Pistoia, do giám mục Scipione de’Ricci (1741-1810) cầm đầu. Trong các quan điểm khác bị lên án có thuyết cho rằng các hội đồng giám mục cấp quốc gia có quyền cởi buộc độc lập với Tòa thánh.

(1) Jansenism là thuyết của thần học gia Công giáo Cornelis Jansen (1585–1638), khoảng 1656-1657, dựa trên thuyết tiền định luân lý (moral determinism). Các nguyên tắc thần học của Cornelis Jansen nhấn mạnh sự tiền định, phủ nhận ý chí tự do, cho rằng bản chất con người hư hỏng, không thể tốt lành, còn Chúa Kitô chỉ chết cho những người được chọn chứ không chết cho mọi người. Giáo hội Công giáo kết án thuyết này là lạc giáo. Thuyết này bị những người cải cách trong giới giáo sĩ, tu sĩ và học giả Công giáo Âu châu Tây phương phản đối, và bị kết án là tà thuyết. Bị ảnh hưởng các tác phẩm của thánh Augustinô, nhất là sự tấn công của thánh Augustinô đối với thuyết Pelagianism (phủ nhận tội tổ tông) và thuyết ý chí tự do, Jansen theo thuyết của thánh Augustinô về sự tiền định và sự cần thiết của Ơn Chúa, một lập trường bị Công giáo La Mã coi là gần với thuyết của Calvin, đã cấm lưu hành cuốn The Augustinus của ông năm 1642. Sau khi Jansen chết năm 1638, những người theo ông đã lập cơ sở tại tu viện ở Port-Royal, Pháp. Blaise Pascal, một đệ tử trung thành của Jansen, đã bảo vệ các giáo huấn của họ trong Provincial Letters (1656–1657). Năm 1709, vua Louis XIV ra lệnh bãi bỏ tu viện này. Những người theo Jansen bắt đầu lập Giáo hội Jansen năm 1723 và tồn tại tới cuối thế kỷ 20.

Tháng Thánh Tâm Chúa Giêsu

THÁNG KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

Trong Huấn dụ về “Tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu” được Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI ban hành ngày 6. 2. 1965 để kỷ niệm 200 năm thành lập Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Ngài viết:

“Sự tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu là việc rất cao quý và ÐẶC BIỆT CẦN THIẾT cho thời đại này.

Ta ước mong việc này được tổ chức với Nghi thức Phụng vụ để phát triển mỗi ngày mỗi rộng lớn hơn, hầu cho mọi Kitô hữu được say sưa lòng Tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và nhờ đó được đổi mới về mọi phương diện.

Việc tôn sùng này cốt yếu là kính thờ Chúa Giêsu một cách xứng đáng và đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu về tội lỗi của ta.”

Chúa Giêsu, Vua Lòng Thương Xót

Tác giả Lourdes R. Policarpio

Bí mật Fatima thứ ba, được trao cho nữ tu Lucia, mạc khải một thiên thần cầm lưỡi gươm lửa (flaming sword) chỉ vào nhân loại. Thiên thần “dọa” sẽ đốt cháy thế gian và nói lớn: “Hãy ăn năn đền tội!”

Tại Nhật, Đức Mẹ Akita nói với nữ tu Agnes Sasagawa về Người hầu gái của Thánh Thể:

…Nếu loài người không ăn năn và sống tốt hơn, Chúa Cha sẽ giáng hình phạt khủng khiếp xuống trên nhân loại. Đó sẽ là hình phạt lớn hơn đại hồng thủy (deluge), như chưa từng xảy ra trước đây. Lửa sẽ từ trời xuống và sẽ quét sạch một phần lớn loài người…

Cả hai lần hiện ra đều khả tín (cả hai lần đều có xác nhận vị giám mục có liên quan), nhiều người làm theo các sứ điệp này phải ngạc nhiên là tại sao không toàn thế giới, nhưng thiên tai khủng khiếp đã xảy ra. Thiên tai còn xảy ra? Sự can thiệp của Đức Mẹ có ngăn được sự phẫn nộ của Thiên Chúa?

Theo Lm Stefano Gobbi, vị sáng lập Phong trào Đức Mẹ của các Linh mục (Marian Movement of Priests), Đức Mẹ đã nói:

…Khi chuẩn bị có sự trừng phạt, hãy nhớ rằng mọi thứ, vào bất cứ lúc nào, có thể thay đổi nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện và đền tội. Do đó, đừng nói trước mức độ tiên báo về sự thật xảy ra! Thay vì thế, hãy cùng tôi tạ ơn Chúa Cha vì lúc anh em cầu nguyện và tận hiến, sự đau khổ của anh em, mức đau khổ vô cùng của nhưng đứa con khốn khổ, Ngài lại thay đổi mức Công Thẳng để LCTX lại nở hoa.

Một mạc khải có liên quan có thể tìm thấy trong Nhật ký của một nữ tu người Ba Lan là Faustina Kowalska (1905-1938), được chân phước Gioan-Phaolô II phong thánh năm 2000. Bà trích dẫn lời Chúa Giêsu khi nói: “Trong Cựu ước, Ta đã sai các tiên tri đến nói những lời cảnh báo loài người. Ngày nay, Ta lại gởi LTX cho mọi người trên toàn thế giới. Ta không muốn trừng phạt loài người, nhưng Ta muốn chữa lành, thúc đẩy điều đó đối với Thánh Tâm Nhân Hậu của Ta”.

“Ta không muốn trừng phạt…”

Chúa Giêsu nói với thánh nữ Faustina: “Cha không muốn trừng phạt loài người đau khổ, nhưng Cha muốn chữa lành họ…”. Điều này mạc khải chiều sâu của LCTX đối với loài người tội lỗi. Là người Cha yêu thương, Thiên Chúa không muốn nhân loại theo đường tội lỗi mà bị trừng phạt. Đây là lý do mà dù có nhiều thiên tai thảm khốc trong những năm qua, các hiện tượng đã được tiên báo mà không xảy ra. Chắc chắn có sự can thiệp của Đức Mẹ, nhờ lời cầu nguyện và hy sinh của những tâm hồn đạo đức đã trì hoãn “lưỡi gươm lửa” của thiên sứ. Nhưng hơn hết, chúng ta phải nhận biết rằng Thiên Chúa là Cha nhân từ còn lưỡng lự với việc trừng phạt. Thế nên Ngài đã gởi LCTX đến để chúng ta có thể sửa đổi.

Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ Faustina: “LTX là thuộc tính vĩ đại nhất của Thiên Chúa”. Do đó, trong thế giới mà quá nhiều đồi bại (perversion) có vẻ không thể loại trừ hết (phá thai, tạp hôn, yêu thương lăng nhăng, hôn nhân đồng giới,…), Thiên Chúa gởi cho nhân loại những “kênh” mới để chuyển tải ân sủng của Ngài.

Sự sùng kính Lòng Chúa Thương Xót

Kinh thánh và phụng vụ của giáo hội không ngừng nói về LCTX. Đặc biệt là chúng ta có Bí tích Hòa giải và Bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và đáp lại thời đại chúng ta, Ngài đã trao ban cho con người hiện đại thêm “kênh đặc biệt” của LCTX qua thánh nữ Faustina. Hai dạng phổ biến nhất là Lời Cầu nguyện lúc Ba giờ và Chuỗi Lòng Thương Xót. Tại Philippines, Lời Cầu nguyện lúc Ba giờ được truyền hình trực tiếp trên ti-vi. Như tên gọi, Lời Cầu nguyện lúc Ba giờ được bắt đầu lú 3 giờ chiều, giờ Chúa Giêsu chịu chết, và Ngài đã gọi giờ này là Giờ Thương Xót đối với thế giới. Giờ cầu nguyện này cũng có thể đọc lúc 3 giờ sáng.

Thêm vào đó, còn có Chúa nhật kính LCTX được CP Gioan Phaolô II thiết lập với tuần cửu nhật (nine-day novena) bắt đầu từ Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday).

Điều đánh động về Lời Cầu nguyện lúc Ba giờ và Chuỗi Lòng Thương Xót là sự ngắn gọn của lời cầu nguyện. Lời Cầu nguyện lúc Ba giờ chỉ mất chưa đầy 1 phút để đọc. Chuỗi Lòng Thương Xót chỉ mất khoảng 30 phút để đọc kinh Mân Côi. Thiên Chúa biết con người thời đại mới say mê và bị áp lực thế nào, Ngài biết chúng ta có ít thời gian để cầu nguyện nên Ngài đưa ra cách cầu nguyện vắn tắt để thích nghi với chúng ta. LCTX thích hợp với chúng ta biết bao!

Thêm vào kho tàng lời cầu nguyện và ân sủng phong phú của giáo hội, Thiên Chúa còn yêu cầu thánh nữ Faustina tuyên bố rằng, vào ngày lễ LCTX, bất kỳ ai xưng tội và rước lễ sẽ lãnh nhận ơn tha thứ trọn vẹn và miễn giảm hình phạt.

Tương tự với lòng sùng kính Thánh Tâm

Những người tôn kính Thánh Tâm Chúa sẽ vui mừng nhận ra rằng việc tôn kính LCTX có liên quan việc sùng kính Thánh Tâm Chúa. Linh ảnh LTX của Chúa Giêsu cho thấy 2 luồng sáng xuất phát từ Thánh Tâm Chúa. Theo giải thích của thánh nữ Faustina: Luồng sáng xanh tượng trưng cho nước làm cho các linh hồn nên công chính, luồng sáng đỏ tượng trưng Bửu Huyết là sự sống của các linh hồn. Chúa Giêsu giải thích thêm với thánh nữ Faustina: “Hai luồng sáng xuất phát từ chiều sâu thẳm của LCTX Thánh Tâm đau khổ của Cha được mở ra bằng lưỡi đòng đâm thâu trên Thánh giá”.

Lời cầu nguyện “Lạy Chúa Giêsu Vua Lòng Thương Xót, con tín thác vào Ngài” cũng tương tự lời cầu nguyện “Lạy Thánh Tâm cực thánh Chúa Giêsu, con đặt trọn niềm tin vào Ngài”.

Lời hứa tương tự về sự giúp đỡ trong phút lâm chung. Về lòng tôn kính Thánh Tâm, Chúa Giêsu hứa rằng những ai rước lễ 9 thứ sáu đầu tháng liên tiếp sẽ được Ngài nâng đỡ trong phút hấp hối. Chúa Giêsu còn nói với thánh nữ Faustina: “Khi họ lần Chuỗi LTX bên người hấp hối, Cha sẽ là Đấng Trung Gian giữa Chúa Cha và người hấp hối, không là Thẩm phán mà là Đấng Cứu Độ nhân hậu”.

Suối Nguồn của lòng sùng kính LCTX là Tình yêu cháy bỏng và dồi dào của Chúa Giêsu dành cho nhân loại. Đây cũng là Suối Nguồn của lòng sùng kính LCTX vì Thiên Chúa trao ban cho chúng ta những “kênh mới” về ân sủng trong thời đại nguy khốn và hiểm họa này.

Chuẩn bị cho lần đến thứ hai

Những ai đọc những điều về thần bí và những con người thánh thiện đều biết rằng Đức Mẹ thường ám chỉ thời đại chúng ta là “thời đại cuối cùng” (the end times). Khi giáo hội không minh nhiên nói rằng chúng ta đang sống những năm tháng cuối cùng của thế giới, Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ Faustina rằng có một nhu cầu cấp bách là tuyên xưng LCTX vì thế giới cần đó là cách chuẩn bị cho Chúa đến lần thứ hai. Đây là vài sứ điệp của Chúa:

– Hãy nói với thế giới về LCTX… Đó là dấu hiệu của “thời cuối cùng”; sau đó là Ngày Công Thẳng (Day of Justice). Con sẽ chuẩn bị cho thế giới về lần đến cuối cùng của Ta. Hãy nói với mọi người về LTX của Ta, vì ngày kinh khủng là Ngày Công Thẳng đã gần kề.

– Trước Ngày Công Thẳng, Ta sẽ gởi đến Ngày LCTX (Day of Mercy). Ta sẽ gia hạn thời gian của LCTX vì những người tội lỗi. Nhưng khốn cho họ nếu họ không nhận biết thời gian này Ta sẽ đến thăm.

– Khi vẫn còn thời gian, hãy để họ cậy nhờ LTX của Ta. Ai từ chối qua Cửa của LTX đều phải qua Cửa Công Thằng của Ta.

Đức Mẹ cũng đã nói với thánh nữ Faustina về sự cấp bách loan truyền lòng sùng kính LCTX: “Con phải nói với thế giới về LTX của Cha và chuẩn bị cho thế giới về lần đến thứ hai của Cha, không đến như Đấng Cứu Độ nhân hậu mà như Thẩm phán công bình. Ngày ấy thật khủng khiếp! Ngày Công Thằng đã được ấn định, ngày phẫn nộ của Thiên Chúa (day of divine wrath). Các thiên thần run sợ trước ngày này. Hãy nói với các linh hồn về LCTX khi vẫn còn thời gian dành cho LCTX”.

Những lời này có làm chúng ta sợ hãi và lo lắng? Trong Kinh thánh, Chúa Giêsu đã nói: “…khi Con Người trở lại, liệu Ngài còn thấy niềm tin trên trái đất?” (Lc 18, 8).

Dù những kẻ tội lỗi và những kẻ hâm hẩm (lukewarmness) quanh chúng ta, dù những khó khăn cá nhân những thử thách trong cuộc sống, chúng ta hãy tim kiếm niềm tin của trẻ thơ (childlike faith) và từ bỏ chính mình để thân thưa: “Lạy Chúa Giêsu Vua Lòng Thương Xót, con tín thác vào Ngài”.


TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)

Thánh Thể và Thánh Tâm

Lm. Vũ Xuân Hạnh

I. DIỄN TIẾN CỦA LỊCH SỬ LÒNG TÔN SÙNG THÁNH TÂM TRONG GIÁO HỘI

THẾ KỶ 17

Có thể coi lịch sử lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa đối với con người, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 17 với công khởi xướng của thánh Gioan Eudes tại Pháp. Những lời giảng dạy và thánh lễ đầu tiên được thánh nhân cử hành ngày 20.10.1672.

Năm 1673, chính Chúa Giêsu hiện ra với thánh nữ Maria Magarita Alacoque tại tu viện Thăm Viếng ở Parayle Monoal và trao cho chị việc truyền bá lòng tôn sùng Trái Tim Người. “Trái Tim đã yêu dấu loài người quá bội.”

Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chống đối của chị em trong tu viện. Nhưng thánh ý Chúa quan phòng. Vì thế năm 1686, tức gần 13 năm sau ngày chị thánh Magarita Alacoque được nhình thấy Thánh Tâm Chúa Giêsu, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu lần đầu tiên được tổ chức tại tu viện Thăm Viếng theo nguyện vọng của chị.

THẾ KỶ 18

Đầu thế kỷ 18, thánh Louis Marie Grignion de Monfort đã rao giảng, truyền bá lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu tại miền tây nước Pháp. Việc tôn sùng này, cùng với ảnh hưởng của thánh Louis Marie Grignion, dần dần lan ra khắp Giáo Hội.

Năm 1765, Đức Thánh Cha Clémente XIII đã khích lệ phong trào sùng kính Thánh Tâm này.

THẾ KỶ 19

Sang thế kỷ 19, lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu đã đi vào lòng người, đã nở rộ khắp nơi. Thế kỷ này được mệnh danh là thế kỷ của lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Chính dưới triều Đức Piô IX, vào năm 1856, theo sự thỉnh cầu của các giám mục Pháp, ngài đã cổ võ lòng tôn sùng Thánh Tâm trên toàn thế giới.

Việc truyền bá lòng tôn sùng này được thuận lợi hơn khi các tu sĩ dòng Tên khởi xướng mạnh mẽ phong trào đạo đức mang tên “Tông đồ cầu nguyện.”

Kinh cầu Thánh Tâm ra đời, số các tín hữu tham dự thứ Sáu đầu tháng gia tăng, nhiều dòng tu dưới cờ hiệu Trái Tim Chúa Giêsu xuất hiện tại Pháp, rồi tại các miền khác trên thế giới, đã minh chứng hùng hồn cho sự phát triển lòng tôn sùng này.

Những cuộc dâng hiến cho Thánh Tâm Chúa: con người, gia đình, hội dòng, giáo phận… được nhân lên. Sau đó, lòng tôn sùng này đi thêm một bước nữa, đó là dâng hiến cho Thánh Tâm quê hương xứ sở mình, mà Bỉ là nước đầu tiên thực hiện năm 1869, tiếp theo là Pháp năm 1873.

Vào khoảng cuối thế kỷ, năm 1899, với thông điệp Annum Sacrum, thông điệp đầu tiên nói về lòng tôn sùng Thánh Thâm Chúa Giêsu, xác định những cơ sở thần học của tôn sùng này, Đức Leô XIII đã chính thức thiết lập lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu vào thứ sáu tuần thứ ba sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, (tức thứ Sáu sau lễ Mình và Chúa Kitô), đồng thời khích lệ, cổ võ việc rước lễ thứ sáu đầu tháng. Cũng vào cuối năm 1899, Đức Thánh Cha Lêô XIII long trọng hiến dâng vũ trụ cho Trái Tim Chúa Giêsu.

THẾ KỶ 20

Tiếp nối truyền thống tốt đẹp trên đây, vào những năm đầu hậu báng thế kỷ 20, Công đồng Vatican II khuyên dạy: Phải cố gắng cổ võ các việc đạo đức đã được tập quán đáng kính của Giáo Hội khuyên là và Giáo Hội đã dành trọng tháng sáu hàng năm để tôn kính cách đặc biệt tình yêu thương của Thiên Chúa thể hiện nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu.

II. PHÉP LẠ THÁNH THỂ LIÊN QUAN ĐẾN THÁNH TÂM

Cho đến bây giờ, trong Giáo Hội, người ta vẫn còn kể cho nhau nghe phép lạ nổi tiếng về bí tích Thánh Thể xảy ra vào năm 700 tại Lanciano, Ý. Trong một thánh lễ do một linh mục dòng Basiliô cử hành tại nhà thờ thánh Legozianô, do một chút nghi ngờ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, vì thế, sau khi đọc lời truyền phép, sự lạ xảy ra ngay trong tay vị linh mục: Bánh trở nên thịt sống và Rượu trở nên máu tươi rồi đông đặc lại thành năm cục to nhỏ.

Cho đến nay, dù 13 thế kỷ đã trôi qua, người ta vẫn còn nhìn thấy rõ miếng bánh đã biến thành thịt có màu hơi nâu. Nếu nhìn dưới ánh sáng, ta sẽ thấy có màu hồng hồng, được đặt trong một mặt nhật bằng thủy tinh. Còn năm cục máu đổi thành màu vàng nghệ, được đặt trong một chén thánh cũng bằng thủy tinh, trưng bày trong nhà thờ thánh Legozianô – Lanciano, để khách hành hương tự do kính viếng.

Trong suốt thời gian qua, giáo quyền đã cho làm nhiều thử nghiệm để có thể kiểm chứng sự lạ này. Những cuộc giám nghiệm được tiến hành vào những năm 1574, 1637, 1770, 1886. Hai lần giám nghiệm mới đây nhất được tiến hành vào năm 1971 và 1981.

Cuộc giám nghiệm 1971 được trao cho giáo sư Odoardo Linoli là giáo sư môn giải phẫu nhân hình, kiêm giáo sư mô học bệnh lý, hóa học và hiển vi học. Cùng cộng tác với ông là giáo sư Ruggero Bertelli, thuộc đại học Siena. Kết quả công bố trước các vị đại diện giáo quyền, chính quyền, giới khoa học, văn học và báo chí ngày 4.3.1971 như sau:

– Thịt và máu là thịt và máu thật, của một người thuộc nhóm máu AB.

– Thịt được lấy ra từ mô cơ tim (một phần thịt của trái tim) một cách khéo léo tuyệt vời như do một nhà phẫu thuật tài giỏi.

– Không tìm thấy bất cứ một chất ướp xác nào trong thịt và máu.

– Trong máu, người ta tìm thấy một số chất hóa học như: clorua, phốt pho, magnêsium, potassium, sodium và calcium.

Điều lạ lùng không kém, đó là các di tích này vẫn không có một vết tích mai một nào, dù trải qua cả một thời dài 1.300 năm. Các di tích này cũng chịu ảnh hưởng bởi các xúc tác vật lý, không khí, sinh vật, nhưng vẫn giữ nguyên tình trạng cách lạ thường, khoa học không thể lý giải.

Có một chi tiết trong câu chuyện phép lạ trên gây chú ý trong tôi. Chi tiết đó là, tấm bánh biến thành Thịt, lại là Thịt của tế bào tim. Trái tim là biểu tượng của tình yêu, là trung tâm của lòng yêu thương. Mình Máu Thánh Chúa hóa nên phép lạ nhãn tiền, để trước mắt mọi người không còn là tấm bánh nhưng là Thịt đích thực, thì chính nơi tấm Thịt đích thực ấy, lại là Thịt của Trái Tim Chúa Giêsu, Thịt của trung tâm tình yêu mà Thiên Chúa trao hiến cho con người. Đẹp biết bao nhiêu, khi ý nghĩa của Trái Tim Chúa Giêsu và Thánh Thể của Người lại được lồng trong nhau nơi hai cuộc lễ trọng thể này. Nhìn lên cái đẹp của Tình yêu Thiên Chúa được chất chứa nơi Trái Tim Thiên Chúa làm người như thế, chúng ta hạnh phúc quá đỗi, vì Thiên Chúa đã nhập cuộc với trần thế để hoá nên nguồn sống muôn đời cho người trần thế.

Không biết đó có phải là lý do để Giáo Hội gắn kết lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu vào lễ Mình Máu Thánh Chúa? Vì hàng năm, cứ sau Chúa nhật lễ Mình – Máu Chúa Kitô, thì ngày thứ sáu liền sau đó sẽ là lễ Thánh Tâm. Dù sao thì hai lễ trọng này vẫn chỉ có một mục đích duy nhất mà Giáo Hội nhắm tới là tôn thờ tình yêu của Thiên Chúa, qua đó mời gọi con người khi đã lãnh nhận tình yêu ấy, hãy trao ban tình yêu cho nhau. Bởi dù là biểu tượng Thánh Tâm hay Thánh Thể, vẫn chỉ là hai khuôn mặt, hai cách diễn tả tuyệt vời, hai hình thức biểu lộ và mạc khải, để chỉ nói lên một nội dung duy nhất: Tình yêu vô cùng của Thiên Chúa dành cho loài người.

III. TỪ THỊ KIẾN CỦA TIÊN TRI ÊZÊKIEL (Ez 47, 1-12)

“Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ.” Đó là lời bài hát trong nghi thức phụng vụ thánh tẩy, chúng ta thuộc nằm lòng. Đó chính là lời Thánh Kinh trích trong sách tiên tri Êzêkiel. Nhà tiên tri đã nhìn thấy một thị kiến lạ thường: một dòng nước bắt nguồn từ bên phải đền thờ. Dòng nước cứ chảy, chảy mãi, chảy mãi. Dòng nước lạ lùng ấy càng chảy, thì mỗi lúc mỗi đi xa, cứ lớn lên thêm, phát triển và lan rộng vô cùng. Dòng nước này đổ ra biển Chết, làm cho nước biển hóa lành, đến nỗi mọi sinh vật trong biển, vốn chết đều hồi sinh và tràng đầy sức sống.

Tiếp tục chảy, đi xa, và phát triển, dòng nước lớn thành một dòng sông lớn, đến nỗi không thể từ bờ bên này sang bờ bên kia. Trong dòng sông thị kiến ấy, có đầy cá tôm, sức sống hai bên bờ sông cũng đua nhau lớn lên và xanh tươi. Mọi cây cỏ mọc lên, trổ sinh hoa quả quanh năm suốt tháng. Nói tóm lại, dòng nước từ đền thờ đã làm cho khắp nơi được sống và sống mạnh mẽ.

Ngày hôm nay, nhìn ngắm Thánh Tâm Chúa Giêsu, nơi phát sinh nguồn sống mãnh liệt, dẫn đưa con người vào sức sống thần linh ấy, Giáo Hội vô cùng sung sướng reo lên:

“Tôi đã thấy Nước
Từ bên phải đền thờ chảy ra,
Và nước ấy chảy đến những ai,
Thì tất cả đều được cứu rỗi và reo lên, Alleluia! Alleluia!”

Đền thờ đó là thân xác Đấng chịu đóng đinh. Dòng nước là dòng Máu cứu chuộc mà chính Người đã trao ban đến giọt cuối cùng để làm cho trần gian, do tội, đã ngập trong biển chết, được hồi sinh và sống mãi.

Trên Thánh Giá, nhân loại đã xé rách lồng ngực của Chúa Giêsu, để từ lồng ngực, nơi Trái Tim đã thương tích vì bị đâm thâu, dòng máu cứu độ, máu chứ không phải nước mà thôi, đã chảy mãi, chảy mãi trong trần gian.

Như dòng sông thị kiến của Êzêkiel, ơn cứu độ phát sinh từ đền thờ là chính Chúa Giêsu, càng chảy đi xa, thì càng rộng lớn, càng phát triển không ngừng. Dòng Máu cứu độ của Chúa Giêsu đã thánh hóa và làm phát sinh sự sống khi chảy vào biển chết của cuộc đời này, và lan rộng khắp nơi từ đời này sang đời khác.

Ngày nay dòng máu cứu độ của Chúa Giêsu vẫn chảy mãi không ngừng đến tận cùng trái đất, để bất cứ nơi nào, nếu có người tin vào Chúa, thì nơi ấy lại phát sinh ơn cứu độ, phát sinh sự sống mới, sự sống vĩnh cửu.

Dòng Máu cứu độ và đền thờ là thân thể của Chúa Giêsu cũng chính là tấm bánh được trao ban cho ta. Nhờ dòng Máu và đền thờ ấy, bí tích cứu độ vẫn không ngừng thánh hóa nhân loại, làm cho nhân loại này, nếu tin tưởng sẽ ngày càng sống và sống mãnh liệt, sống đến vô cùng.

Với chiều hướng suy nghĩ về Thánh Tâm Chúa Giêsu và bí tích Thánh Thể, ta càng nhận ra, Thánh Thể và Thánh Tâm có một một ý nghĩa lớn lao, gần gũi. Mối dây tương tác qua lại của cả hai biểu tượng Thánh Thể và Thánh Tâm bổ sung ý nghĩa cho nhau, làm cho khuôn mặt của Tình Yêu nơi Thiên Chúa càng chiếu tỏa, và sức nóng của Tình Yêu ấy càng ấm áp cho lòng người thế, một khi sống trọn đức tin và dám đặt đời mình cho lòng tin vào Tình yêu của Thiên Chúa.

Và Giáo Hội, một khi mang nơi mình cả kho Tàng tình yêu vô cùng ấy của Thiên Chúa, trở nên phong phú, sức sống dồi dào. Từ đó, đời sống của Giáo Hội không thuộc về Giáo Hội, nhưng là nhờ chính Tình yêu của Chúa nuôi dưỡng và làm cho phát triển không ngừng. Giáo Hội thật diễm phúc vì đã có thể mang nơi mình chính mầu nhiệm tình yêu chính Bầu Tim của Thiên Chúa, còn hơn thế, mang nơi mình chính bí tích của Thân Thể Thánh của chính Đấng là Thiên Chúa làm người, để bất cứ ai đến với Giáo Hội, đều được Thiên Chúa trao ban chính sự sống sung mãn của Người cho họ.

IV. TRỞ VỀ VỚI TÌNH YÊU CỦA CHÚA

Một buổi sáng, đi dạo trong khu vườn vắng của nhà xứ, vừa thể dục vừa thư giản. Bỗng một chú chim non đang tập chuyền cành rớt giữa đường bay. Thấy có người, dù bị ngã sóng xoài nhưng cố gượng dậy cất cánh bay lên. Vẫn chưa hoàn sức đầy đủ, vì thế chú bay lên lưng chừng, rồi lại rớt xuống. Lần này còn nặng hơn cú té lần trước. Đập cánh mãi, cố đứng dậy, nhưng đôi chân yếu ớt, chú chim non lại ngã lăng quay.

Tôi tới gần, lại càng làm chú chim sợ hãi, cố hết sức vùng dậy để bay. Nhưng sự cố gắng lớn của chú chim chỉ có thể giúp chú nhảy vài bước tới phía trước tránh người lạ, rồi lại phải ngã mình nằm xuống. Tôi đưa chú chim non lên lòng bàn tay của mình, vuốt ve vài cái để chú yên tâm. Tôi tìm một chút nước rắc nhẹ lên mình chú chim để chú có thể mau hồi tỉnh. Tôi lại đặt chú lên một phiến đất khô để chú nằm nghỉ. Vài phút sau tôi trở lại thăm. Lần này, vừa mới nhát thấy bóng tôi, chú chim non vội vàng giương cánh bay lên cành cao. Chú chim non sợ tôi. nó không nhìn tôi với đôi mắt biết ơn. Nó cũng chẳng coi tôi là người giúp đỡ nó. Nó vẫn coi tôi là kẻ thù không hơn, không kém.

Hôm nay và cả tháng Sáu này nữa, Giáo Hội tôn vinh Tình yêu của Thiên Chúa được cụ thể hóa nơi Trái Tim diệu hiền của Chúa Giêsu.

Có dịp suy niệm lại Tình yêu của Chúa, tôi mới giật mình thảng thốt: hình như đã từ lâu lắm rồi, mình chỉ là một chú chim non đầy phản trắc, một chú chim non chưa bao giờ cảm nghiệm đầy đủ Tình Yêu của một Người Cha cao cả dành cho mình. Bởi thực tế, trong cuộc sống đời mình, tôi dễ dàng quên lời Thiên Chúa dạy: hãy yêu thương, hãy tha thứ, hãy hiến thân, hãy cho đi, hãy nhân từ, hãy hiền lành, hãy nghèo khó, hãy khiêm nhường.

Tôi chẳng nhớ gì cả, chẳng giữ gì cả, lại nhớ rất rõ và chấp nhất rất nhiều bất cứ kẻ nào nặng lời với tôi, nói xấu tôi, xúc phạm tôi bằng bất cứ hình thức nào. Tôi chưa bao giờ bằng lòng với cái tôi của mình, và với những gì tôi đang có, ngược lại rất nhiều lần tìm kiếm những tiện nghi, sống nếp sống trưởng giả, đặt mình trên người khác để thỏa lòng kiêu ngạo của bản thân.

Tôi không chỉ đã đi quá xa Tình yêu của Chúa, mà hình như khi không chấp nhận anh chị em, và chỉ lo tìm kiếm sự an thân vật chất cho mình, tôi đặt mình đối diện với Thiên Chúa, không đứng về phía Người, nhưng vô tình trở thành kẻ đối lập với Người.

Thái độ ấy cho thấy tôi chưa tin tưởng vào Tình yêu của Chúa, nghi ngờ Chúa. Hậu quả thật khó lường: dần dà chính tôi đã tự đẩy mình ra khỏi Thiên Chúa.

Tôi chỉ là một chú chim non rong ruổi trong cuộc đời. Tầm nhìn của chú chim non bé quá, chỉ thấy cái hiện tại và đuôi mù trước một thế giới bao la phía trước. Chú chim non cần lắm bàn tay Chúa dìu đưa để ngày một trung thành hơn trong lòng mến và trong tình yêu.

Lễ Thánh Tâm và tháng Thánh Tâm, chúng ta ca tụng Chúa và tôn vinh Tình yêu của người là phải lẽõ. Nhưng trên hết mọi sự, có một điều cần thiết nhất, phải làm ngay, đó chính là hãy ý thức mình bé nhỏ, yếu đuối, non nớt, hay phản trắc… để thực tâm quay về với Tình yêu ấy.

Để cụ thể hóa việc trở về ấy, điều ta cần làm hôm nay là: “Hãy kết hợp việc tôn sùng Thánh Tâm và tôn thờ Thánh Thể lại với nhau, vì qua bí tích Thánh Thể, tình yêu của Thánh Tâm Chúa rõ rệt hơn, và chúng ta cũng có phương tiện bày tỏ lòng tri ân cảm mến của chúng ta cách dễ dàng hơn.” (Thư mục vụ của Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, giáo phận Phú Cường).

Vậy, trong những ngày này, bạn và tôi hãy đón nhận Mình Máu Chúa Kitô với tất cả tâm hồn thanh sạch, để qua đó, ta tôn thờ chính Tình yêu của Chúa và được chính Tình yêu của Người bồi dưỡng làm thăng hoa sự sống của bản thân, và tiến tới ơn gọi hoàn thiện là nên thánh trong tình yêu của Chúa.

***

178. Đừng để tháng ngày làm cho quả tim già nua. Hãy yêu thương với một tình yêu ngày càng mãnh liệt, mới mẻ, trong trắng hơn: tình yêu Chúa đổ vào quả tim con.

181. Con cảm thấy quả tim con yếu đuối. Các thánh cũng như con. Nhưng nhờ vậy họ mới làm thánh: nhờ ơn Chúa và ý chí.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận – Đường Hy Vọng

Tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu

+GM Gioan B. Bùi Tuần

Tôn sùng Thánh Tâm là một việc thờ phượng rất phổ biến trong Hội Thánh Việt Nam.

Tượng ảnh Thánh Tâm được kính thờ đặc biệt tại các nhà thờ và các tư gia.

Việc kính thờ Thánh Tâm được thực hiện bằng nhiều cách. Như ca hát, đọc kinh, dâng mình. Có hình thức nhỏ. Có hình thức lớn.

Nói chung, tấm lòng người công giáo Việt Nam đối với Thánh Tâm đúng là tâm tình đạo đức nhiệt thành. Tâm tình này là một cách đáp trả lòng thương xót đặc biệt Chúa dành cho chúng ta.

Để tâm tình đạo đức này được tiếp tục kéo nhiều ơn Chúa xuống cho ta, nhất là trong thời buổi có nhiều thử thách về sống đạo như hiện nay, tôi xin phép trình bày một chia sẻ. Chia sẻ của tôi ở đây là nêu lên vài việc thiết tưởng nên nhấn mạnh trong việc tôn sùng Thánh Tâm.

1. Ăn năn sám hối

Ăn năn sám hối là việc cần thiết đầu tiên được nhắc đi nhắc lại trong Phúc Âm.

Thánh Gioan Baotixita, khi đi rao giảng dọn đường cho Chúa Cứu thế đến, Ngài luôn chọn đề tài ăn năn sám hối (x. Lc 1-18).

Chúa Giêsu khi khai mạc giai đoạn rao giảng Tin Mừng, cũng đã bắt đầu bằng việc khuyên người ta ăn năn sám hối. Phúc Âm kể: “Đức Giêsu rao giảng và nói rằng: Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 4,17).

Chúa Giêsu, khi cảnh cáo con người về nguy cơ bị những tai hoạ khủng khiếp huỷ hoại, Người cũng khuyên mọi người hãy ăn năn sám hối (x. Lc 13,1-5).

Chúa Giêsu, khi sai các tông đồ đi các nơi để loan báo về Nước Trời, Người cũng nói rõ với các ông về sứ vụ phải khuyên người ta ăn năn sám hối. “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối” (Mc 6,12).

Chúa Giêsu, khi dặn dò những lời sau hết, trước khi lên Trời, Người cũng đã nhấn mạnh với các tông đồ: “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân…, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha thứ” (Lc 24,47).

Vâng lời Chúa Giêsu, các tông đồ đã làm như Thầy mình dạy.

Trong bài giảng thứ nhất, thánh Phêrô đã tha thiết khuyên dân: “Anh em hãy sám hối” (Cv 2,38).

Trong bài giảng thứ hai, thánh Phêrô lặp lại cũng lời khuyên đó: “Anh em hãy sám hối và trở lại cùng Chúa” (Cv 3,19).

Cùng một đường lối như thánh Phêrô là đi giảng việc ăn năn sám hối, thánh Phaolô và các tông đồ khác đều hăng hái kêu gọi mọi người đổi mới con người của mình bằng việc ăn năn sám hối.

Trong các lần hiện ra, Đức Mẹ cũng nhắn nhủ các con cái Mẹ hãy ăn năn sám hối. Tất cả những việc đạo đức, mà Hội Thánh khuyên dạy chúng ta làm, bao giờ cũng mở đầu bằng việc thanh luyện tâm hồn chúng ta bằng việc ăn năn sám hối.

Nếu ăn năn sám hối là việc đặc biệt quan trọng như bước đầu cần thiết để thờ phượng Chúa, thì việc đó càng nên được chúng ta thực hiện trong mọi hình thức tôn sùng Thánh Tâm. Bởi vì chính Thánh Tâm là Tình yêu Chúa tạo dựng, cứu chuộc, nhưng dễ bị xúc phạm và bị bỏ quên. Chính tình yêu đó luôn lo lắng cho phần rỗi chúng ta. Người chỉ mong chúng ta hãy biết đón nhận ơn cứu chuộc bằng việc ăn năn sám hối chân thành.

Một điều thiết tưởng nên nhớ trong việc ăn năn sám hối, là cần để ý đến tính cách cụ thể. Ăn năn về tội gì? Sám hối về tính mê nết xấu nào? Quyết tâm ra sao để sửa đổi những hành vi, cử chỉ, ngôn từ, cách suy nghĩ, cách phán đoán trước đây không tốt. Phúc Âm thường hay dạy chúng ta về tính cách cụ thể trong việc ăn năn sám hối, để việc đổi mới chính mình được hữu hiệu.

Cùng với việc ăn năn sám hối, chúng ta còn nên nghĩ đến một việc nữa, khi tôn sùng Thánh Tâm. Việc đó là dâng mình cho Thánh Tâm.

2. Dâng mình cho Thánh Tâm

Để hiểu thế nào là dâng mình cho Thánh Tâm, chúng ta nên đọc và suy gẫm những lời Phúc Âm sau đây:

“Rồi, Chúa Giêsu gọi đám đông cùng các môn đệ lại. Người nói với họ rằng: Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai liều mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống mình, thì người ta nào có lợi gì? Quả thật, người ta lấy gì mà đổi lại mạng sống mình?” (Mc 8,34-38).

Như thế, ai dâng mình cho Thánh Tâm cần thực hiện những việc sau đây:

Từ bỏ mình,

Vác thánh giá mình,

Theo Chúa Giêsu.

Thực hành những đòi hỏi trên đây được hiểu là thực thi thánh ý Chúa. Thực thi thánh ý Chúa là căn bản của tinh thần thờ phượng, đáng Chúa nhận là chứng từ thuộc về Chúa, như lời Chúa Giêsu phán:

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).

Đừng vội cho rằng: Thực thi thánh ý Chúa với những đòi hỏi từ bỏ mình, vác thánh giá mình và theo Chúa là chọn cho mình một gánh nặng khổ cực. Nhưng hãy tin vào lời Chúa ủi an nhắn gởi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Ta, và hãy học với Ta, vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách của Ta thì êm ái, và gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

Những lời Chúa hứa trên đây là một bảo đảm quý giá cho những ai tôn sùng Thánh Tâm Chúa một cách xứng đáng, nhất là theo gương Thánh Tâm mà sống bác ái và khiêm nhường Phúc Âm.

Cuộc đời là một cuộc giao tranh giữa thiện và ác. Xác thịt thì yếu đuối. Thế gian thì nông nổi. Quỷ thì độc dữ. Chúng thường lôi kéo chúng ta theo đàng tội. Chúng ta hãy khôn ngoan và tỉnh thức trong các chọn lựa.

Cách chọn lựa chắc chắn nhất là hãy nương tựa vào Thánh Tâm Chúa Giêsu. Ngài rất gần gũi ta. Ta nương tựa bằng lòng tôn sùng với hai việc trọng yếu là sám hối và dâng mình.

Luôn luôn được ở lại trong Thánh Tâm Chúa Giêsu, đó là lời cầu đơn sơ của những tâm hồn bé mọn. Thiết tưởng đó cũng là tiếng gọi âm thầm của Thánh Tâm gởi tất cả mọi người thiện chí đã cảm nghiệm về tính cách mong manh của cuộc đời.